“Một bóng ma đang bao trùm toàn thế giới, bóng ma của chủ nghĩa cộng sản”
Chủ nghĩa tư bản toàn cầu từ lâu đã không còn khả năng phát triển xã hội, và đang trải qua thời kỷ khủng hoảng tột cùng nhất trong cơn giãy chết của nó. Chiến tranh, diệt chủng, hỗn loạn chính trị trở thành bình thường mới. Cạnh tranh đế quốc giữa các cường quốc cũ và mới như Mỹ-EU-Nga-Trung ngày càng gay gắt. Trong khi đó quần chúng ngày càng khổ cực vì nghèo đói và chiến tranh, dần dần thức tỉnh giai cấp và bắt đầu tăng cường đấu tranh. Trước bối cảnh này, chủ nghĩa cộng sản ngày càng nhận được sự chú ý và ủng hộ trong quần chúng, tạo tiền đề cho một giai đoạn cách mạng toàn cầu mới.
Việt Nam cũng không nằm ngoài quá trình này. Từ cuối năm 2024, “Kỷ nguyên vươn mình” trở thành khẩu hiệu chính trị mở ra viễn cảnh tương lai thịnh vượng của dân tộc Việt Nam. Dầu vậy, những hàng quán đóng cửa, lạm phát tăng cao, tương lai ảm đạm của người vô sản đã bộc lộ những cơn sóng ngầm trong lòng xã hội.
Như biển lặng trước cơn sóng lớn, những người Cộng sản hiểu rằng những mâu thuẫn sẽ lặng lẽ tích tụ, cho tới ngày nó trở thành cơn sóng thần của quần chúng vô sản giáng xuống giai cấp thống trị. Để thực thi vai trò lịch sử của mình: đấu tranh và hướng tới việc lãnh đạo giai cấp vô sản Việt Nam, cùng đồng hành với giai cấp vô sản thế giới trong cuộc chiến với chủ nghĩa tư bản, người Cộng sản cần phải có sự hiểu biết rõ ràng về giai đoạn lịch sử mà chúng ta đang đi qua, về các quá trình và mâu thuẫn diễn ra trong nền kinh tế, xã hội, trong đấu tranh giai cấp, để từ đó rút ra những kết luận hợp lý về phương pháp tổ chức và chiến thuật tổ chức trong hiện tại và tương lai.
Tài liệu này có vai trò đó: nó khái quát tầm nhìn của những người cộng sản cách mạng về Việt Nam hiện tại, để từ đó kêu gọi cho tính cấp thiết của việc xây dựng một tổ chức cách mạng, một đảng cách mạng thực thụ chuẩn bị cho việc lật đổ chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam.
TẦM NHÌN THẾ GIỚI – CUỘC KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
Từ sau cuộc đại khủng hoảng năm 2008, chủ nghĩa tư bản toàn cầu đã không còn sự bình ổn kinh tế, tăng trưởng và phát triển được coi là tiêu chuẩn sau thế chiến II nữa. Các thị trường mới để chủ nghĩa tư bản khai thác đã tới thời bão hòa, và cũng chẳng thể trì hoãn khủng hoảng bằng cách phương pháp cũ như vay nợ, khi tín dụng và nợ toàn cầu hệt như quả bom chầu chực chờ nổ. Theo đúng quy luật nội tại của nó đã được chủ nghĩa Marx phân tích, tư bản luôn cần phải gia tăng bóc lột và áp lực lên giai cấp công nhân toàn cầu để duy trì lợi luận, đặc biệt khi miếng bánh kinh tế không còn đủ tăng trưởng.
Bất bình đẳng xã hội bùng nổ: nhóm 1% giàu nhất thế giới sở hữu khoảng 43% tài sản tài chính toàn cầu. Chủ nghĩa tư bản đã không còn khả năng tiến bộ mà ngày càng đi vào ngõ cụt, không còn có thể thực sự phát triển lực lượng sản xuất một các đáng kể nữa. Tăng trưởng toàn cầu trì trệ ở mức 2-3% dự đoán, hầu hết do các nước đang phát triển kéo con số này lên, còn tình hình ở các nước phát triển như Châu Âu, Châu Mỹ còn tệ hơn nữa.
Nợ công (nợ của chính phủ) toàn cầu đã đạt mức kỷ lục hơn 348 nghìn tỷ USD, với tổng nợ đạt gấp ba lần tổng giá trị sản xuất (GDP). Theo Ngân hàng Thế Giới (World Bank), mức nợ này, đi kèm với mức lãi suất tăng nhanh và chiến tranh thương mai gia tăng với các chính sách thuế quan khốc liệt của Donald Trump, đã tạo ra một quả bom nợ báo hiệu khủng hoảng nợ trên toàn cầu và làm tăng tính bất ổn của toàn hệ thống.
Sự khủng hoảng kinh tế này kéo theo các khủng hoảng khác, trong một thế mà các nhà lãnh đạo tư sản gọi là “đa khủng hoảng” (“perma-crisis” hoặc “polycrisis”), từ khoá đã trở thành chủ đề nóng ở Hội nghị Davos và được từ điển Collins trao giải “từ của năm” năm 2022. Khủng hoảng biến đổi khí hậu ngày càng gây tai hoạ khắc nhiệt. Khủng hoảng về chiến tranh và bạo lực nổ ra toàn cầu như cuộc chiến Nga-Ukraine, chiến tranh Mỹ-Israel-Iran mới đây hay chiến tranh Thái Lan – Campuchia, diệt chủng ở Gaza, Sudan, Congo, và nhiều ví dụ khác. Kèm theo chiến tranh là vấn đề tị nạn, nhập cư, và các vấn nạn phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo, hay các khác biệt trong tầng lớp vô sản thường bị tầng lớp thống trị lợi dụng để chia rẽ.
Xu hướng thoái trào không chỉ thể hiện ở khủng hoảng kinh tế mà còn bộc lộ ở khủng hoảng chính trị – xã hội khi các thể chế tư sản mất dần tính chính danh, và những phong trào công nhân, thanh niên, dân tộc bị thôi thúc nổi lên. Khắp nơi, quần chúng đã đứng dậy đấu tranh phản đối trật tự chủ nghĩa tư bản, tự vệ khỏi những cuộc tấn công vào giai cấp vô sản, hay là để cho thấy sự ủng hộ và đoàn kết với các phong trào quốc tế.
Hãy điểm qua một vài ví dụ nổi bật trong những năm vừa qua. Ở phương Tây, các phong trào dân tuý chống các đảng phái chính thức đã nổi lên, cho thấy sự căm phẫn với giới cầm quyền. Donald Trump ở Mỹ, sự sụp đổ của các đảng phái truyền thống ở cả cánh tả và hữu ở các nước châu Âu như Anh, Pháp , Đức, Ý đều là ví dụ cho điều này. Kéo theo đó là sự bất ổn chính trị tràn lan. Ví dụ, Pháp đã trải qua 7 đời thủ tướng chỉ trong nhiệm kỳ của tổng thống Macron, trong đó 4 thủ tướng được bầu và bãi nhiệm trong 1 năm trở lại đây, có người không nhậm chức được quá một tháng. Không một chính phủ nào có thể tồn tại lâu được, vì để được lòng giai cấp tư sản thống trị, các chính trị gia cần phải tấn công vô sản và cắt giảm chi tiêu, nhưng ắt sẽ gặp phải các phong trào quần chúng. Đại biểu tình “Áo vàng” (Gilets jaune) và “Chặn tất cả” (Bloquons Tout) ở Pháp là một số ví dụ.
Tình hình còn nóng hơn ở các nước nghèo và đang phát triển. Những năm vừa qua đã chứng kiến các cuộc cách mạng tự phát bởi người dân của nhiều nước đang phát triển, thường dẫn đầu bởi người trẻ (hay còn được gọi là “cách mạng Gen Z”) và có chung một thái độ chống tham nhũng, chống chính quyền. Điển hình là ở Nepal, Bangladesh và Madagascar 2025, Sri Lanka 2022. Các chính quyền này là những thể chế độc tài, được hỗ trợ bởi súng và dùi cui của cảnh sát, quân đội, nhưng cũng đã sụp đổ do sự trỗi dậy của quần chúng. Và còn nhiều phong trào lớn ở khắp nơi cho thấy sự vận động của quần chúng, như Indonesia tháng 8 vừa rồi, biểu tình ở Iran trước chiến tranh, biểu tình Gen Z ở Kenya 2024-5, biểu tình hàng triệu người ở Serbia, Bulgaria, Morocco 2025. Đây là màn dạo đầu cho các phong trào quần chúng trong tương lai, cũng là lời tiên đoán về một khả năng tương tự ở Việt Nam.
Trong bối cảnh này, sự ổn định mà một số quốc gia như Việt Nam cảm nhận được chỉ là tạm thời. Chủ nghĩa đế quốc đang ở trong giai đoạn khủng hoảng vốn nằm trong bản chất của chủ nghĩa tư bản, khả năng duy trì trạng thái ổn định, thỏa hiệp giai cấp đã không còn. Nó đang sử dụng những công cụ quân sự, chính trị và kinh tế mạnh mẽ hơn bao giờ hết: chiến tranh ủy nhiệm, tăng thuế quan, phong tỏa công nghệ và chạy đua vũ trang đều là biểu hiện. Những cường quốc như Mỹ và Trung Quốc không chỉ cạnh tranh thị trường mà còn tranh chấp quyền kiểm soát chuỗi xuất khẩu, tài nguyên thiên nhiên và ảnh hưởng chiến lược.
Trong khi đó, các nước ngoại vi như Việt Nam dù phần nào lợi dụng được cơ hội sản xuất – xuất khẩu, nhưng vô sản lại càng phải chịu áp lực từ sự bóc lột ngày càng khốc liệt của tư bản đế quốc trong quá trình cạnh tranh ấy. Vì vậy, hòa bình và ổn định dưới chủ nghĩa tư bản chỉ là ảo ảnh; khủng hoảng đế quốc nghĩa là khủng hoảng toàn cầu – và sự phân chia lại quyền lực thế giới luôn là cuộc chiến giữa các giai cấp trên bình diện quốc tế. Giai cấp công nhân toàn cầu phải nhìn rõ rằng kẻ thù của họ không chỉ nằm trong nước mà là chủ nghĩa tư bản–đế quốc toàn cầu.
BẢN CHẤT CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM – MỘT CHÍNH QUYỀN BONAPART
Trước tình thế thế giới sóng gió như vậy, việc chính quyền Việt Nam đã giữ được “hoà bình giai cấp” và ổn định kinh tế cho đến bây giờ khiến nó vẫn nhận được một sự ủng hộ và chấp nhận nhất định. Nhiều người vẫn còn ảo tưởng vào vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCS), cho rằng nó thực sự đại diện cho tầng lớp vô sản, hoặc chí ít cũng đang đại diện chung cho dân tộc và đóng vai trò hoà giải để phát triển kinh tế cho đến khi đủ lực lượng sản xuất để “quá độ lên chủ nghĩa xã hội.”
Trên thực tế, Đảng “Cộng Sản” Việt Nam không những không hề bảo vệ giai cấp vô sản khỏi bóc lột của tư bản và đế quốc, mà còn là kẻ thù chính của vô sản, hậu thuẫn và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản và đế quốc ở Việt Nam. Điều này hẳn đã khiến nhiều người trẻ, người cánh tả, thậm chí những người cộng sản không khỏi bối rối, vậy bản chất của ĐCS là gì và lý giải nào giải thích được điều đó?
ĐCS đã ra đời và lớn lên dưới cái bóng của chủ nghĩa Stalin, cái bóng đè nặng lên Quốc tế Đệ Tam và phong trào cộng sản quốc tế. Ngay từ đầu nó đã đi theo đường lối sai lầm này và có những kết luận, chiến lược trái với chủ nghĩa Marx. Trong phong trào dành độc lập, nó đã tin vào học thuyết “hai giai đoạn” và vào sự cần thiết của một “liên minh giai cấp dân tộc,” vào một quá trình dài “quá độ lên XHCN” mà trong đó giai cấp tư sản vẫn được chứa chấp trong xã hội. Sự sai lệch của những lý tưởng đó đã ắt gây nên những thất bại đắt giá. Tuy nhiên, nhờ vào sự đấu tranh và hi sinh của vô sản và nông dân Việt Nam, cũng như sự lãnh đạo quân sự và đấu tranh chính trị từ ĐCS, mà nó đã đạt được một chiến thắng lớn đó là sự xoá bỏ chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản khỏi VN và thống nhất đất nước.
Tuy nhiên, dựa trên mô hình kinh tế tập trung quan liêu thiếu vắng dân chủ vô sản của Liên Xô dưới thời Stalin, chế độ nhà nước được hình thành cũng mang màu sắc giống nhà nước công nhân thoái hoá ở Liên Xô: nơi kinh tế tập trung là tiền đề cho một giai tầng, một bộ máy quan liêu trỗi dậy nắm quyền. Ở đó, dù kinh tế đã được kế hoạch hoá và tập trung hoá, nhưng người công nhân không hề thực sự có quyền điều hành dân chủ trong nhà máy hay nơi làm việc. Họ thậm chí chẳng có quyền tham gia và tổ chức độc lập cho lợi ích giai cấp của mình, khi công đoàn cũng bị thâu tóm bởi bộ máy Đảng – Nhà nước.
Chủ nghĩa Marx từ lâu đã phân tích hiện tượng “chủ nghĩa Bonapart.” Nhà nước vốn là bộ máy đàn áp của một giai cấp này lên giai cấp khác, và luôn có bản chất giai cấp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt khi các giai cấp trong xã hội không đủ mạnh để thâu tóm toàn bộ quyền lực, nhà nước có thể đóng một vai trò độc lập hơn (dù chỉ là tương đối), dùng vũ lực của nó đứng trên xã hội. Trong trường hợp này, nhà nước “Bonapart” sẵn sàng dựa vào bất kỳ thành phần giai cấp nào, bất kỳ nhóm nào trong xã hội ở mỗi giai đoạn khác nhau, để giữ quyền lực của mình, dù bản chất nó vẫn phải dựa vào một mô hình sản xuất – một giai cấp nhất định.
Nhà nước công nhân thoái hoá của ĐSC ở những năm sau chiến thắng đế quốc không hề cho phép quyền lực về tay vô sản và nông dân, nhưng bản thân chủ nghĩa tư bản đã bị xoá bỏ nên giai cấp tư sản cũng quá yếu để nắm quyền lực và đã bị đàn áp do liên minh với đế quốc. Không còn tư bản nữa, nhà nước bắt buộc phải bảo vệ nền kinh tế kế hoạch hoá, từ đó mang một bản chất vô sản vì nó bảo vệ mô hình sản xuất của vô sản, dù là mô hình kinh tế tập trung kiểu quan liêu thay vì dân chủ công nhân. Bản chất của “chính quyền Bonapart vô sản” này là: dù không thực sự phản ánh lợi ích của vô sản, nhưng quyền lực và các lợi lộc của chính phủ đến từ việc kiểm soát kinh tế tập trung, nên giai tầng quan liêu nhất quyết bảo vệ nền kinh tế tập trung và sự cấp tiến của nó. Mô hình kinh tế này thiếu đi sự kế hoạch dân chủ từ quần chúng vô sản và nông dân, và vì vậy nó thiếu khả năng phát huy hiệu quả kinh tế tối đa, nên đã lâm vào ngõ cụt kinh tế.
Với sự thất bại của kinh tế tập trung kiểu quan liêu, tính toán lợi ích của giai tầng quan liêu đã thay đổi. Họ hiểu được rằng nhất quyết phải đổi mới để phát triển kinh tế, để tiếp tục giữ vững lý do cầm quyền của họ, giữ được vị trí quyền lực. Họ không thể trao quyền lực cho quần chúng vô sản hay cho phép dân chủ vô sản để cải thiện hiệu quả kinh tế, bởi như vậy sẽ đồng nghĩa với đánh mất quyền lực của mình. Vì thế, chính quyền Bonapart vô sản đã dần chuyển thành Bonapart tư sản: họ đã dỡ bỏ nền kinh tế tập trung, giới thiệu và phát triển chủ nghĩa tư bản ở VN, và dựa vào nó để tiếp tục quyền lợi cai trị, tiếp tục hưởng lợi ích với vai trò người điều hành chính sách kinh tế. Các cán bộ “con ông cháu cha”, các doanh nghiệp “sân sau” giúp thành phần quan liêu của kinh tế kế hoạch trước đây vẫn giữ được khả năng trục lợi, chẳng qua là bằng một cách thức mới, thông qua cấu kết với tư bản, bằng tham ô và hối lộ. Từ lúc đổi mới, chính quyền đã mở cửa thị trường và kinh tế VN cho tư bản đế quốc xâu xé, để cho lao động VN trở thành lao động rẻ mạt và bị bóc lột thậm tệ trong chuỗi cung ứng xuất khẩu cho thị trường quốc tế. Giờ đây, nhà nước này hoàn toàn thống nhất trong lập trường bảo vệ chủ nghĩa tư bản, bảo vệ mối quan hệ sản xuất tư sản ở Việt Nam.
Quá trình từ Đổi mới 1986 chứng kiến sự ưu ái ngày càng tăng tiến của ĐCS với kinh tế tư nhân và đặc biệt là đại diện của nó – giai cấp tư sản dân tộc. Khác với tư bản đế quốc, thành phần tư sản dân tộc đại diện cho lợi ích gần gũi nhất với giai tầng quan liêu, đây là bộ phận tư bản yếu hơn và dễ kiểm soát hơn, chúng dần hoà nhập vào bộ máy quan liêu thông qua ràng buộc lợi ích. Từ vai trò bổ trợ trong năm 1986, cho tới thừa nhận vai trò vào năm 2011, thì tới năm 2025, kinh tế tư nhân được đặt làm động lực chính của nền kinh tế thông qua Nghị quyết 68, kéo theo đó là hàng loạt cải cách thể chế, cải đổi hành chính để tạo môi trường “thông thoáng, an toàn” dành cho khối tư nhân. Các chỉ tiêu về làm giàu, để có top tỉ phú, top doanh nghiệp trên bảng xếp hạng quốc tế, 20 tập đoàn lớn tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, là một ví dụ cho thấy nỗ lực hỗ trợ và nương tựa tư sản này của ĐCS.
Mọi vai trò “điều hoà giai cấp” và thoả hiệp giai cấp, mọi nước đi tấn công vào các cá thể tư sản (như Trương Mỹ Lan) hay hạn chế thành phần tư bản bởi chính phủ Việt Nam, không phải là do ĐCS đứng về phía vô sản. Nhà nước sẵn sàng thanh trừng một bộ phận trong chính nó (như chiến dịch “Đốt lò” trừ tham nhũng), để đảm bảo trật tự, hạn chế sự lũng loạn thái quá của tư bản vào nhà nước, và kiểm soát quyền lực. Ngay cả Trương Tấn Sang cũng bị kỷ luật vào năm 2002, dù thú vị rằng việc này không cản trở ông này trở thành chủ tịch nước 9 năm sau. Nhưng tất cả chỉ là những nỗ lực hoà giải xã hội để duy trì chủ nghĩa tư bản không khác gì các cải cách và “trao quyền” mà các chính phủ ở các nước tư sản như Anh, Pháp, Mỹ nhượng bộ cho người dân. Trên hết, ngoài việc bảo vệ chủ nghĩa tư bản và lợi nhuận cho tư bản trong và ngoài nước, mục đích chính luôn là để duy trì quyền lực của nhóm quan liêu cầm quyền. Bởi vậy nên nó mới tập trung vào tăng trưởng và giữ vững bình ổn, nhưng cũng sẽ không ngần ngại đàn áp dã man nhất bất kỳ phong trào vô sản nào.
Giống như những chính quyền Bonapart khác, ĐCS cũng cai trị bằng vũ lực và kiểm soát, một cách nữa để giảm thiểu khả năng mâu thuẫn xã hội và mâu thuẫn giai cấp có thể đe doạ đến quyền lực của nó. Biểu hiện của sự bạo lực này là việc trừ khử tất cả những người Trotskyist từ năm 1945, việc áp đặt sự tập trung chính trị và quyền lực vào tay nhà nước, bằng việc ‘bầu cử’ đại biểu chỉ là lễ nghĩa, tự do báo chí gần như chỉ là bù nhìn, và bất cứ hoạt động chính trị nào như biểu tình hay đình công, nằm ngoài thể chế của ĐCS và các tổ chức tay chân của nó, đều được gán mác là “phản động” và “làm rối trật tự công cộng.” Thể chế độc tài này khác xa với dân chủ công nhân, khác xa với những mô hình nhà nước của những người Marxist như Marx, Engel, Lenin, khác xa với những thí nghiệm Chủ nghĩa Xã hội thực sự như Công xã Paris và những năm đầu của nền chuyên chính vô sản Liên Xô. Cuối cùng, nhà nước VN dù tự gọi là “Xã hội Chủ nghĩa” lại chỉ là nhà nước chuyên chính thuộc về tư sản.
Trước tình hình khủng hoảng sắp tới, ĐCS cũng đang ngày càng chú trọng vào việc nâng cao khả năng đàn áp và giám sát của nó, với những “chuyển đổi số” để tinh vi hoá bộ máy kiểm soát và giám sát, cùng với các bộ luật như bộ luật An Ninh Mạng, để ngày càng thắt chặt sự kiểm soát lên quần chúng. Sự trỗi dậy của Tô Lâm, bản thân là một thành phần của bộ Công An, càng tô đậm quá trình “công an trị,” thắt chặt kiểm soát của luật pháp lên quần chúng.
Bản chất của nhà nước là một công cụ giai cấp, để giai cấp thống trị dùng trị vì giai cấp bị trị. Trong trường hợp của nhà nước Việt Nam, là một ví dụ của nhà nước Bonapart, quyền lực đàn áp thống trị này chưa bao giờ thuộc về tay vô sản. Dù trước đây nó đã được dùng để bảo vệ lợi ích tiến bộ của vô sản và thành tựu cách mạng là nền kinh tế tập trung, hiện giờ nó đã hoàn toàn bảo vệ lợi ích của tư sản, dùng quyền lực để đàn áp vô sản, để duy trì và trục lợi từ chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam. Thế nhưng, mặc cho những quá trình “công an trị,” mặc cho sự đàn áp và ru ngủ từ chủ nghĩa dân tộc về việc nhà nước “đại diện cho toàn dân và liên minh giai cấp” nó không thể cản được những bất mãn đang ngày càng gia tăng trong xã hội giai cấp.
MÂU THUẪN ÂM Ỉ TRONG LÒNG XÃ HỘI
Được coi là sự tiếp nổi của “Kỷ nguyên độc lập dân tộc và tự do” (từ Cách mạng tháng Tám 1945) và “Kỷ nguyên đổi mới và phát triển” (từ sau cải cách Đổi mới năm 1986), “Kỷ nguyên vươn mình” của Chính phủ Việt Nam mở ra một thời đại đầy hứa hẹn: tăng trưởng kinh tế cao hai chữ số, tăng cường phúc lợi về y tế, giáo dục, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045. Đi kèm với nó là tăng cường các dịch vụ trợ cấp để cho “dân giàu”, phô trương lực lượng khí tài cùng thu hút nhân lực công nghệ để “nước mạnh”, và nâng cao “ngoại giao cây tre” mềm dẻo trên chính trường quốc tế để “sánh vai với các cường quốc năm châu”.
Lý tưởng tham vọng được treo cao như ngọn cờ trên tháp ngà nhưng dưới mặt đất đang là gì? Mặt đất là chỗ của người vô sản!
Nhu cầu nhà ở đang trở thành một vấn đề cấp bách. Mô hình tăng trưởng dựa vào đầu cơ đất đai đã tạo ra một cấu trúc sở hữu cực kỳ bất bình đẳng. Giá nhà ở Hà Nội vào quý 2/2025 tăng 33% so với cùng kỳ. Ở TP.HCM, dù đã giảm nhiệt, giá căn hộ vẫn ở mức 102 triệu đồng/m2 vượt xa khả năng chi trả của người lao động nói chung, còn các dự án nhà ở xã hội vẫn chỉ chiếm nguồn cung rất nhỏ và liên tục vấp phải đình trệ trong xây dựng, hay các tệ nạn chiếm đoạt, phân lô bán nền.
Lạm phát tiếp tục là một gánh nặng chỉ càng thêm chứ không bớt với người công nhân. Vào tháng 3 năm 2026, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở mức 3,35%, đẩy giá các mặt hàng tăng cao. Trái lại, mức lương tối thiểu 5.310.000 đồng/tháng gần như chỉ đủ chi trả chi phí sinh hoạt, trong khi sơ lược mức lương tối thiểu để một người công nhân có thể sống ở các khu vực như Tp.HCM, HN là 10 – 12 triệu để có thể tồn tại. Có tới 74% người lao động phản hồi trong khảo sát năm 2025 rằng thu nhập của họ không đáp ứng đủ nhu cầu duy trì cuộc sống. Tình hình chiến tranh Trung Đông khiến giá dầu leo thang cũng sẽ làm lạm phát nhảy vọt, tạo thêm áp lực lên giai cấp vô sản. Áp lực duy trì cuộc sống khiến người lao động ngoại tỉnh buộc phải rời thành phố, gây ra làn sóng di cư ngược về quê.
Phần còn lại cầm cự bằng những công việc giá trị thấp, bấp bênh, nhiều rủi ro, trong nền kinh tế việc làm tự do (gig economy). Việc làm tài xế công nghệ trở thành cứu cánh phổ biến cho những lao động muốn bám trụ tại thành phố. Có khoảng gần 1 triệu tài xế công nghệ từ các ứng dụng Be, Grab, Xanh SM đang làm việc trong những điều kiện khắc nghiệt và bị bóc lột thậm tệ bởi thuật toán.
Bộ phận những người trẻ cũng thể hiện sự mất lòng tin đang ngày càng gia tăng khi đối diện trước tương lai kinh tế ảm đạm, triển vọng việc làm bị thu hẹp. Giá học phí trường công tăng gấp nhiều lần, đẩy sinh viên vào vay nợ để học hay thậm chí bỏ học, gây nên bất bình đẳng cực lớn trong tiếp cận giáo dục bậc cao.
Những viễn cảnh tương lai như mua nhà, ổn định sự nghiệp đang càng trở nên tăm tối trước bối cảnh kinh tế khó khăn. Có tới 1,6 triệu thanh niên “ba không” (11,6% tổng số thanh niên) – không việc làm, không tham gia học tập và không tham gia đào tạo nghề. Tỉ lệ thất nghiệp thanh niên ở thành thị đang tăng lên hơn 10%, một con số cho thấy nguồn lực lao động đang bị bỏ phí. Các công việc cho sinh viên mới tốt nghiệp ngày càng thu hẹp, còn sự bóc lột với người lao động ngày càng gia tăng vì phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ hơn do xu hướng “tinh giảm”, tối ưu chi phí vận hành của các doanh nghiệp.
Những vấn đề này dẫn tới các xu hướng phản ứng từ người trẻ như bỏ phố về quê, hay gần đây nhất là “Lỡ cả đời không rực rỡ thì sao”, khi chọn những con đường được coi là “ít tham vọng” và “an toàn” hơn. Tỉ lệ sinh suy giảm, và việc người trẻ trì hoãn hoặc không muốn lập gia đình cũng là những hệ quả trực tiếp của những vấn đề này. Đáp lại, truyền thông đại chúng đổ lỗi thanh niên, đặc biệt là thế hệ Gen Z, cho rằng người trẻ không cầu tiến, lười biếng, hờ hững với nhịp phát triển chung của xã hội. Trên thực tế, sự mất lòng tin của người trẻ là một phản ứng bình thường của một cấu trúc tư bản chủ nghĩa đã tới thời mục ruỗng, chứa đựng đầy mâu thuẫn và không còn có thể tạo ra động lực sản xuất.
Lao động trẻ khó khăn, mà lao động có thâm niên cũng lại không an vị vì canh cánh nỗi lo bị thay thế. Người lao động đối diện “Lời nguyền tuổi 35” khi các công ty dần có chính sách phân biệt ngầm khi tuyển dụng nhân sự trên 35 tuổi. Điều này được chia sẻ rộng rãi trên các hội nhóm của công nhân công sở trên Facebook như “Đi làm đừng đi lầm”, “Hội review công ty có tâm!”, “Sống sót nơi công sở”, “Biết thế đéo đi làm”… Đây chính là biểu hiện điển hình cho mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản. Một mặt, nó cần nguồn lao động giá rẻ, sẵn sàng bán sức, bán mình, sẵn sàng nghe lời. Mặt khác lại không sẵn sàng đầu tư để có lớp nhân sự thay thế, muốn tối đa hóa lợi nhuận từ việc bóc lột và ép lương nhân sự có thâm niên bằng cách chia rẽ một vài bộ phận trong vô sản.
Chia để trị là phương pháp kinh điển của giai cấp thống trị, nó sẵn sàng sử dụng đủ các hình thức phân biệt, dù là tuổi tác, giới tính, vùng miền… để đẩy giai cấp vô sản trong trạng thái đối kháng lẫn nhau, tạo điều kiện thuận lợi để chúng có thể thao túng và áp đặt lợi ích. Bởi vậy, các mâu thuẫn về áp bức giới, áp bức các nhóm thiểu số dân tộc, tính dục, giới tính vẫn đầy rẫy trong xã hội.
Tất cả những vấn đề này đang dần làm bộc lộ rõ những khoảng trống, những ảo giác, lừa bịp và che đậy mà tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc không thể nào bù đắp, mà người trẻ Việt Nam và giai cấp vô sản Việt Nam, cả cổ cồn trắng lẫn cổ cồn xanh, cũng đang dần thức tỉnh.
Trong quần chúng, sự bất mãn với chính phủ, với bộ máy và các tổ chức quan liêu cầm quyền, với những chính sách mới ngày càng lên cao. Trên không gian mạng, các thông cáo và tin tức của chính phủ, dù là tin trong nước hay quốc tế, thường chỉ nhận được những phản ứng cười cợt mỉa mai, những lời trào phúng. Điều này có thể quan sát được, mặc cho sự kiểm soát không gian mạng dưới cái cớ “an ninh mạng,” và mặc cho sự đàn áp tiếng nói, sự thiếu vắng quyền dân chủ ngôn luận đã bịt đi nhiều sự bất mãn của người dân.
Karl Marx đã từng viết về quá trình cách mạng diễn ra như quá trình con chuột chũi đào xới thửa đất lịch sử1. Nó đào sâu trong lòng đất ngày qua ngày, nom bề mặt tưởng như chẳng có chuyện gì diễn ra, để rồi vào thời khắc tức nước vỡ bờ, nó trồi lên khỏi mặt đất và tạo ra những rung chuyển cách mạng. Mặc cho sự ổn định và phát triển nhất thời của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam, các mâu thuẫn thúc đẩy quá trình cách mạng này vẫn đang diễn ra, và sẽ tới thời điểm bùng phát. Nhưng để hiểu được sự vận động của nó, ta cần xem xét tình hình và sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam.
SỰ ỔN ĐỊNH KINH TẾ
Sự ổn định trên bình diện kinh tế – chính trị – xã hội ở Việt Nam là yếu tố chính cần được phân tích, mà trong đó yếu tố kinh tế có tính then chốt. Rất nhiều “dư luận viên” cho rằng sự ổn định này đại diện cho chính sách đúng đắn của ĐCS, và rằng họ đã tìm ra liều thuốc tiên cho sự phát triển kinh tế thông qua “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Trải qua 40 năm, kinh tế Việt Nam cũng có một số điểm sáng nhất định. Ngành công nghiệp thép hàng đầu Đông Nam Á với sản lượng 24,7 triệu tấn vào 2025 cùng ngành công nghiệp khai khoáng tương đối, giúp Việt Nam đảm bảo một ngành xây dựng tự chủ và khả năng phát triển các cơ sở hạ tầng cao cấp. Ngành viễn thông – thông tin khá nổi bật với Viettel – hiện đã vượt biên giới để vươn vòi tới châu Phi, Nam Mỹ… Ngành dệt may, da giày đứng thứ hai về xuất khẩu trên toàn cầu cùng các doanh nghiệp thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng tương đối có tiếng trong khu vực như Vinamilk, TH True Milk, Masan…. Điều này tạo ra tiềm năng lớn trong việc phát triển giai cấp công nhân, cũng như một nền tảng kinh tế để phát triển, nâng cao mức sống cơ bản cho giai cấp vô sản Việt Nam.
Đúng là kinh tế Việt Nam vẫn trên đà phát triển không ngừng với mức tăng trưởng cao (mặc cho một số cú shock, ví dụ như năm 2008). Tính chính thống của đảng cầm quyền đến từ lời hứa phát triển không ngừng của kinh tế: mặc cho sự bóc lột, mặc cho tham nhũng, hối lộ và đàn áp, nhà nước vẫn được tin tưởng bởi người dân vì nó làm tròn trách nhiệm bảo vệ phát triển kinh tế của mình trước giông gió kinh tế bên ngoài. Các mâu thuẫn xã hội chưa bùng phát thành phong trào là bởi phát triển kinh tế cũng phần nào tạo điều kiện cho việc nâng cao mức sống, thực hiện cải cách, phần nào xoa dịu các mâu thuẫn và bất bình đẳng ngày càng gay gắt.
Kinh tế Việt Nam được xây dựng dựa trên ba thành phần chính. Đầu tiên là kinh tế nhà nước: hệ thống doanh nghiệp nhà nước vẫn còn là thành phần cốt lõi của kinh tế từ thập kỉ 90, cho phép nhà nước kiểm soát sự tư bản hoá sau Đổi Mới.
Doanh nghiệp nhà nước vẫn là hệ thống đệm hỗ trợ quan trọng. Chúng khuếch tán sự ảnh hưởng và can thiệp của chính quyền trong phân bổ hướng đi của tư bản và tiền mặt trong nền kinh tế để điều hành kinh tế, và từ cung cấp doanh thu, giúp bình ổn chi tiêu nhà nước. Quyền lực và sự can thiệp lớn của nhà nước vào nền kinh tế cũng có nhiều cái lợi cho việc phát triển kinh tế theo một hướng có chiến lược, có tổ chức, phục vụ phát triển các cơ sở hạ tầng vì mục đích kinh tế cốt lõi, mà nếu để vào tay thị trường tự do thì sẽ có khả năng bị trục lợi, gây ảnh hưởng an ninh quốc gia. Bởi vậy, các doanh nghiệp này tiếp tục được xác định là “đầu tàu” của nền kinh tế thông qua nghị quyết 79 mới đây.
Trong khối doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp năng lượng vẫn là chủ đạo, chiếm 69,8% tổng vốn sở hữu của 19 tập đoàn nhà nước với đại diện là PetroVietnam và Petrolimex (Xăng dầu), EVN (Điện). Hạ tầng giao thông vận tải xếp thứ hai với 8,6% tổng vốn với Vietnam Airlines, Tổng công ty Hàng không Việt Nam (ACV), Tổng công ty hàng hải, Đường sắt. Các nhóm viễn thông – Công nghệ thông tin như VNPT, Mobifone xếp thứ ba. Trong khi đó, nhóm công nghiệp chỉ chiếm phần khiêm tốn với 2,6%.
Tuy nhiên, bởi rây mơ dễ má với đẳng cấp quan liêu và các nhóm lợi ích, doanh nghiệp khối nhà nước thể hiện sự trì trệ, kém năng động và cũng là nguồn gây thất thoát ngân sách lớn, cùng hàng loạt các bê bối về sử dụng vốn kém hiệu quả, gây lỗ khổng lồ mà Vinashin là một điển hình. Cú sốc Vinashin là đòn kết liễu cho giấc mơ xây dựng “cú đấm thép” – các doanh nghiệp công nghiệp nặng của nhà nước. Đây là lý do Chính phủ Việt Nam đã tiến hành tái cơ cấu, giảm đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, chỉ tập trung giữ vốn vào các lĩnh vực cốt lõi về quốc phòng, an ninh, độc quyền tự nhiên và hạ tầng thiết yếu và thoái vốn khỏi các lĩnh vực như sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nông lâm ngư nghiệp, và xây dựng thông thường, mở đường cho đầu tư tư nhân.
Dù đang trên đà thu hẹp (từ 12.000 doanh nghiệp nhà nước vào giai đoạn đầu Đổi mới, xuống còn 473 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước vào 2026), đây vẫn là các doanh nghiệp lớn và đã đem lại nguồn thu lớn cho bộ máy quan liêu nhờ nắm giữ các “yết hầu” kinh tế – năng lượng, hạ tầng giao thông – vận tải, khoáng sản, quốc phòng – an ninh….
Doanh nghiệp FDI là trụ cột thứ hai, đóng góp gần 19% GDP. Nhờ việc duy trì ổn định kinh tế-chính trị tương đối so với các khu vực khác, cùng các chính sách ưu đãi và giá lao động rẻ, Việt Nam được coi là một điểm đến hứa hẹn cho FDI. Trong thập niên vừa qua, Việt Nam thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở mức cao – các dòng FDI vào sản xuất và chế biến chiếm tới khoảng 4,8% GDP giai đoạn 2015-23, vượt nhiều nước ASEAN và Ấn Độ.
Việc cho phép tư bản và công nghệ nước ngoài được đem vào sản xuất trong một nước mà khởi đầu kinh tế tương đối lạc hậu là lý do tối thượng cho nền kinh tế xuất khẩu mạnh mẽ của Việt Nam hiện tại. Từ sau đổi mới, các doanh nghiệp FDI lần lượt mở cửa, đầu tư nước ngoài đổ vào thành lập các nhà máy sản xuất mà trong đó vai trò của Việt Nam là phân đoạn sản xuất hoặc lắp ráp để xuất khẩu hướng đến thị trường thế giới. Phần lớn đầu tư FDI vào Việt Nam là các doanh nghiệp từ Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc, sau đó mở rộng ra Trung Quốc, EU và Mỹ – tới từ sự kiện bình thường hóa quan hệ Mỹ – Việt Nam vào 1996, cùng hàng loạt Hiệp định Thương mại tự do với các nước EU. Sau khi Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006, đầu tư vào Việt Nam tăng gấp hai đến ba lần.
Nguồn vốn đầu tư này là động lực phát triển mạnh không những cho các ngành công nghiệp trực tiếp như lắp ráp điện tử, hóa chất và may vá nhưng cả các ngành và doanh nghiệp lân cận như giao thông vận tải, năng lượng và xây dựng.
Thành phần thứ ba của kinh tế Việt Nam là doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là của các đại tư sản dân tộc, những kẻ sở hữu các công ty, nhà máy, lực lượng sản xuất và giàu có khổng lồ. Được cho là “động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”, đóng góp khoảng 51% GDP. Tới năm 2030, kinh tế tư nhân nói chung được mong đợi sẽ đạt trình độ sản xuất và năng lực công nghệ cùng sức cạnh tranh cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Kinh tế tư sản Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể, từ một nước không có các tập đoàn tư nhân, trở thành một nước có tỷ phú giàu nhất Đông Nam Á.
Như vậy, ba thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế FDI và kinh tế tư sản dân tộc đã làm nên sự ổn định tương đối và sự phát triển chóng mặt của nền kinh tế Việt Nam sau Đổi Mới, trong đó FDI và kinh tế xuất khẩu dựa vào FDI đóng vai trò quan trọng nhất hình thành nên chiến lược phát triển kinh tế qua xuất khẩu. Tuy nhiên, những cấu thành kinh tế này đều có vấn đề riêng của nó, và đều không thể tách khỏi mâu thuẫn và khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản nói chung.
TỪ ỔN ĐỊNH ĐẾN BẤT ỔN
Dù ổn định và tăng trưởng mạnh mẽ trên bề mặt, thì ẩn sâu trong nền kinh tế là những quá trình mâu thuẫn mà ắt sẽ dẫn đến sự bất ổn và khủng hoảng. Cốt lõi vẫn là mâu thuẫn kinh tế nội tại của chủ nghĩa tư bản mà có hai hướng khủng hoảng chính: Bối cảnh khủng hoảng của hệ thống tư bản toàn cầu gây ảnh hưởng tới trong nước do sự phụ thuộc và kết nối của kinh tế Việt Nam với thị trường thế giới, và một cuộc khủng hoảng trong nước đến từ chính những mâu thuẫn tự nhiên của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam.
Việc khủng hoảng sẽ đến với Việt Nam thông qua các cú shock từ kinh tế thế giới là rất khả thi, do nội tại mong manh và sự phụ thuộc của nền kinh tế vào thị trường quốc tế. Như đã phân tích, chiến tranh Nga-Ukraine và đặc biệt là chiến tranh ở Iran, cùng các mâu thuẫn thương mại như thuế quan đại diện cho các mối hiểm hoạ với nền kinh tế. Lực lượng sản xuất của Việt Nam còn yếu, nằm ở khâu lắp ráp giá trị thấp và phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu. Một cú sốc về thị trường, công nghệ hay an ninh biển đều có thể làm đứt gãy nền kinh tế. Một cuộc suy thoái kinh tế có thể là khơi mào của bất ổn.
Việt Nam hiện tại đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng mô hình tăng trưởng lại kém bền vững, phụ thuộc và dễ bị tổn thương. Tuy dựa vào xuất khẩu để tăng trưởng kinh tế, phần lớn xuất khẩu lại do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài điều hành — gần 73% tổng xuất khẩu năm 2024 đến từ khu vực FDI. Mặc dù tốc độ tăng trưởng cao nhưng nền tảng nội lực còn yếu: nội địa hóa thấp, doanh nghiệp trong nước phần lớn vẫn ở khâu lắp ráp, thiếu công nghệ cao và giá trị gia tăng thấp2.
Mức độ chuyển giao công nghệ từ FDI vô cùng giới hạn. Hình thức công ty nước ngoài liên doanh sản xuất với doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 13%. Từ tháng 7/2018 đến hết năm 2023, trong 579 thỏa thuận chuyển giao công nghệ được cấp chứng nhận đăng ký, có tới 85% trong số đó (493 thỏa tuận) là hợp đồng chuyển giao cho doanh nghiệp FDI. Con số này cho thấy các doanh nghiệp VN chưa có khả năng ứng dụng và tham gia vào chuỗi cung ứng chung của doanh nghiệp nước ngoài, không đủ sức hấp thụ công nghệ.
Hơn nữa, vị thế “ngoại vi” vốn là nước nhỏ, nghèo, phụ thuộc trong chuỗi giá trị toàn cầu không cho phép Việt Nam tự chủ định hướng — vừa phải tuân theo quy tắc và lợi ích của tư bản xuyên quốc gia, vừa phải ứng phó với rủi ro từ biến động bên ngoài như chiến tranh thương mại hoặc thay đổi công nghệ nhanh. Với hoàn cảnh này, việc di chuyển từ các lĩnh vực sản xuất giá trị thấp như lắp ráp, gia công sang lĩnh vực giá trị cao như thiết kế, dịch vụ, giá trị gia tăng là không hề dễ dàng, thậm chí là không thể khi lợi thế cạnh tranh duy nhất là lao động rẻ.
Việt Nam đang được “hưởng lợi tạm thời” từ khủng hoảng và cạnh tranh giữa các đế quốc. Khi Mỹ–Trung đối đầu và dịch chuyển chuỗi cung ứng, Việt Nam trở thành điểm đến thay thế, từ đó xuất khẩu và FDI tăng vọt. Nhưng điều này giống như đứng trên một tấm ván giữa hai con sóng: chỉ cần một bên điều chỉnh chiến lược hoặc chuỗi cung ứng chuyển sang nơi rẻ hơn (Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh…), Việt Nam sẽ ngay lập tức bị ảnh hưởng nặng nề. Điều này khiến giới cầm quyền và giới chủ khăng khăng đòi giảm lương, gây áp lực lên đồng lương của công nhân. Nó cũng là lý do đằng sau sự khiếp nhược trong nhượng bộ của Việt Nam với Mỹ khi Trump đe doạ áp thuế năm ngoái, từ việc hạ thuế nhập khẩu cho Mỹ, đến việc bật đèn xanh khẩn cấp cho dự án sân gôn và resort của Trump, cùng loạt thỏa thuận mua máy bay Boeing của Mỹ.
Địa chính trị càng bất ổn, Việt Nam càng dễ bị kéo vào vòng xoáy đế quốc. Ở Biển Đông, căng thẳng với Trung Quốc về chủ quyền sẽ tiếp tục leo thang khi tài nguyên và tuyến hàng hải bị tranh giành. Mọi bước đi “cân bằng mềm” giữa Mỹ – Trung đều chứa rủi ro: ngả sang bên nào cũng mất đối trọng, đứng giữa thì bị ép phải chọn. Trong bối cảnh các đế quốc bước vào giai đoạn cực đoan hơn — chiến tranh thương mại, phong tỏa công nghệ, xung đột quân sự — Việt Nam không thể mãi đứng ngoài.
Những giông bão quốc tế này là một lý do khiến Việt Nam đẩy mạnh mục tiêu phát triển nhóm tư sản dân tộc. Nhưng các con số chứng minh rằng nhưng đây rõ ràng không phải lời giải. Trong hệ thống kinh tế tư nhân Việt Nam, nhóm tài chính – ngân hàng giữ vị thế thống soát. 72% doanh nghiệp tư nhân lớn nhất thuộc nhóm tài chính – bất động sản, cho thấy kinh tế Việt Nam bị thống trị mạnh bởi tư bản tài chính. Dòng tiền, thay vì đổ vào các khu vực sản xuất tạo giá trị thật sự qua các sản phẩm hay dịch vụ có chức năng phục vụ con người, thì lại tập trung mạnh vào các kênh tương đối an toàn và có tiềm năng sinh lời tốt, nhưng đều mang tính ký sinh lên nền kinh tế “thật”. Ngoài ngành ngân hàng kiếm lời dựa trên lãi suất được trả bằng công sức lao động của người khác, hệ thống tài chính chủ yếu là đầu cơ cá cược và thu lợi dựa trên các mánh khoé và thay đổi trong thị trường, “mua thấp bán cao”. Nổi bật nhất là bất động sản, vàng, chứng khoán. Dù sự giảm sút lợi nhuận mạnh mẽ sau Covid-19 và bất động sản tồn kho còn nhiều, đầu tư vào bất động sản vẫn tăng cao.
Mặt khác, nhóm công nghiệp – sản xuất lại trở thành sân chơi chính của doanh nghiệp FDI. Không có doanh nghiệp tư sản dân tộc đủ mạnh và thiếu hụt công nghệ, Việt Nam không có khả năng cạnh tranh với sản xuất nước ngoài. Dù là nước trọng xuất khẩu, hơn 70% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam lại tới từ doanh nghiệp FDI, nắm giữ 98-99% giá trị xuất khẩu thuộc nhóm công nghệ cao như máy vi tính, sản phẩm điện tử, điện thoại, linh kiện. Điều này tiếp tục củng cố sự phụ thuộc mạnh của nền kinh tế vào vốn và sản xuất của tư bản đế quốc. Báo cáo của Bộ Công Thương cho thấy, hiện nay, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp vẫn đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2-3 thế hệ, trong đó có đến 76% thiết bị máy móc, dây chuyền công nghệ nhập từ nước ngoài thuộc thế hệ những năm 1960-1970. Ngành công nghiệp phụ trợ yếu kém dẫn tới linh kiện chủ yếu phải nhập từ nước ngoài, khó lòng tự thân xây dựng một công nghiệp sản xuất mạnh mẽ.
Để tăng cường hiệu quả sản xuất, Chính phủ Việt Nam tập trung vào công nghệ, chuyển đổi số và dữ liệu làm trọng tâm phát triển, tận dụng lợi thế tri thức “đi tắt đón đầu”. Dù vậy, doanh nghiệp Việt Nam vẫn không thoát khỏi thế gia công, cung cấp dịch vụ, chẳng thể chạm đến dẫn đầu công nghệ hay các khâu “giá trị gia tăng cao”. Các “Kì lân công nghệ” như FPT – vốn phát lên chủ yếu nhờ bán sức lao động, gia công lập trình, nay đổi mặt với khó khăn khi giá cổ phiếu rớt thảm hại vì sự phát triển của AI. CMC cũng ở trong tình trạng tương tự, khi nguồn thu chỉ dừng ở cung cấp dịch vụ công nghệ đơn thuần, còn kì lân VNG cũng chỉ dựa vào việc phân phối game và sở hữu mạng xã hội Zalo.
Các cố gắng hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp tư sản trong nước để cạnh tranh với nước ngoài ví dụ như qua Nghị định 68, cũng không thể đảo ngược quy luật kinh tế ngày càng đòi hỏi nâng cao sự bóc lột, khi các tập đoàn tư bản đế quốc đang cạnh tranh khốc liệt trong một miếng bánh kinh tế ngày càng thu hẹp.
Tất cả mang lại một bức tranh chung của kinh tế tư nhân Việt Nam đầy bất ổn: Một nền kinh tế thiếu bền vững, tăng trưởng dựa trên đầu tư FDI, trợ lực bởi đầu tư tài chính ngắn hạn và tăng trưởng tín dụng vào những lĩnh vực có thể sinh lời nhanh chóng, một nền sản xuất bị thống soát bởi nước ngoài, chưa có sức tự chủ, dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài, công nghệ lạc hậu và sức cạnh tranh kém. Hơn nữa, các vấn đề môi trường và tăng dân số già làm tăng áp lực lên hệ thống phúc lợi vốn mỏng, và đe doạ đến nguồn cung lao động rẻ mạt vốn là lý do chính đằng sau “phép màu tăng trưởng”.
Mặt khác, sự bất ổn này đến từ một sự thật rằng: kể cả khi có tăng trưởng, thì phân chia miếng bánh kinh tế giữa vô sản và tư sản, giữa công nhân và ông chủ, là một cuộc đấu tranh trong đó lợi ích của hai bên là đối lập hoàn toàn với nhau. Minh chứng cho điều này là ví dụ của các nước có cách mạng và cách phong trào quần chúng gần đây như Nepal, Bangladesh, Indonesia – các nước này đều có tăng trưởng khá hoặc tốt nhưng đi kèm với con số GDP là sự bần cùng hoá của người dân, dẫn đến sự giận giữ khổng lồ ngày càng tích tụ.
Chính quyền Việt Nam dù trên bề mặt luôn ăn mừng về các chỉ số kinh tế nhưng bên trong là sự giằng xé và nhượng bộ không ngừng để nuông chiều ý muốn của tư bản nước ngoài, bởi tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào điều đó. Bởi thế, nó đã tạo rất nhiều ưu đãi cho đầu tư nước ngoài. Từ ưu đãi thuế khóa, ký kết các thỏa thuận sở hữu trí tuệ, cho tới đàn áp phong trào công nhân trong nước, giữ giá trị lao động ở mức tối thiểu, đều để làm hài lòng các ông chủ nước ngoài. Tất cả những “nhượng bộ” này được biện minh dưới mục tiêu thu hút nguồn vốn, và đặc biệt là thúc đẩy chuyển giao công nghệ để Việt Nam dần tiến tới tự chủ công nghệ, phát triển sản xuất nội địa. Nhưng như đã phân tích ở trên, việc chuyển giao công nghệ này chỉ là một giấc mơ hão huyền.
Mặt khác, chính quyền cũng hiểu được việc cần thiết trong nâng cao chất lượng lao động và công nghệ, nâng cao năng suất lao động để đáp ứng các nhu cầu hiện đại và cố gắng chuyển giao sang các bước sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn để cải thiện kinh tế. Thế nhưng điều này đòi hỏi chi tiêu ngân khố, đầu tư từ nhà nước, là một vấn đề vốn nan giải. Ai sẽ chi trả cho điều này? Chắc chắn không phải là các nhà tư sản đế quốc hay tư bản lớn trong nước, những người được chính quyền hết sức chiều chuộng, hoặc qua tham ô mà có nhiều ảnh hưởng. Logic của chủ nghĩa tư bản nói rằng để thu hút đầu tư nước ngoài và hỗ trợ tư sản trong nước đầu tư cải thiện sản xuất, thì không thể tăng thuế lên họ được.
Nếu không phải là tư sản, thì suy cho cùng vẫn là vô sản trả giá, hoặc dùng đến tín dụng và vay nợ, vốn cũng không phải là một giải pháp thực sự về lâu dài. Những nỗ lực chính sách như tinh gọn bộ máy, cải cách thuế áp lên doanh nghiệp nhỏ và thuế thu nhập cá nhân, thể hiện nỗ lực cân bằng ngân khố mà không động đến lợi ích của đại tư sản. Các câu chuyện về cải cách cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, cũng tương tự. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa lợi ích của tư sản và các giai cấp khác trong xã hội, một mâu thuẫn sẽ càng bùng nổ khi khủng hoảng, suy thoái, và các vấn đề khác dấy lên câu chuyện ngân khố sẽ còn gắt gao hơn bây giờ. Chính phủ sẽ phải đứng trước quyết định khó nhằn của các chính phủ tư sản phương Tây hiện tại: rằng sẽ tra tấn vô sản để chi trả cho khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản và gặp rủi ro phản kháng từ quần chúng, hay để chủ nghĩa tư bản và nền kinh tế sụp đổ cùng với quyền lực trong tay họ.
Thêm nữa, sự tồn tại của thành phần quan liêu đóng vai trò là bộ phận ký sinh gây cản trở hiệu quả kinh tế. Ngoài việc là kẻ thù chính duy trì sự bóc lột của giai cấp công nhân, ĐCS với những sự lũng đoạn, tham ô tham nhũng của nó cũng tiêu tốn một nguồn lực xã hội khổng lồ, mà trái với vai trò của vô sản là những người trực tiếp sản xuất, họ lại chỉ có vai trò thống trị chứ không hề có năng suất. Tham nhũng thuộc về bản chất của nhà nước dưới chủ nghĩa tư bản, điều này không những Lenin đã giải thích, mà còn là điều hợp lý trong thị trường lao động khi đẳng cấp quan liêu có vị trí quyền lực và nhu cầu củng cố thêm cho đồng lương của họ qua tham nhũng. Ở những cấp cao hơn, các ông lớn bà lớn xây dựng cho chính mình cả những đế chế kinh doanh và doanh nghiệp “sân sau” nhà nước, thay nhau chia cắt miếng mồi từ tiền đấu thầu các dự án tỷ đô. Các vụ bê bối liên quan đến thiết bị y tế và chuyến bay giải cứu thời Covid-19 là một ví dụ rõ ràng cho việc này, chưa kể đến vụ Trương Mỹ Lan đã cho thấy sự tham nhũng mang tính cấu trúc của cả hệ thống quan liêu.
Không thể biết chắc được một cuộc suy thoái toàn cầu, một cú shock hay một cuộc khủng hoảng kinh tế Việt Nam sẽ xảy ra vào khi nào. Nhưng nó chắc chắn sẽ xảy ra, theo quy luật của chủ nghĩa tư bản.
Hiện tại, nhà nước vẫn giữ được một thứ “ổn định trên bề mặt” nhờ ổn định kinh tế, tuyên truyền dân tộc chủ nghĩa, kiểm soát thông tin và kìm hãm tổ chức độc lập của giai cấp công nhân. Sự bần cùng của giai cấp vô sản Việt Nam sẽ tiếp diễn và ngày càng nghiêm trọng trong tương lai, và sẽ có những sự kiện khiến cho giọt nước tràn ly, khiến cho quần chúng tự thân đi vào đấu tranh. Đặc biệt, nếu có khủng hoảng và nền kinh tế chậm đi, bất ổn sẽ càng nhanh chóng nổ ra từ chính mâu thuẫn giai cấp trong nước. Khi tăng trưởng giảm, thất nghiệp tăng và nợ leo thang, tầng lớp công nhân sẽ không còn có thể chấp nhận mức lương chết đói và đời sống bấp bênh. Họ sẽ thức tỉnh và phản kháng. Điều này có thể mất một chút thời gian, để ý thức bắt kịp với thực tại, để người vô sản mất đi ảo tưởng vào chế độ và các lãnh đạo truyền thống của họ. Nhưng mọi quan sát lịch sử đều đưa đến một kết luận: rằng chừng nào còn có mâu thuẫn giai cấp, vốn là một phần tất yếu của chủ nghĩa tư bản, thì mâu thuẫn này ắt sẽ đi đến mức đỉnh điểm dẫn đến đấu tranh và cuối cùng là cách mạng nổ ra.
ĐẤU TRANH GIAI CẤP
Với quá trình mâu thuẫn tiếp diễn trong xã hội như vậy, sự phân hoá và chia rẽ, bất bình đẳng cũng phản ánh tình trạng kinh tế và là yếu tố quan trọng trong phân tích về lực lượng giai cấp. Việt Nam đang hình thành một cấu trúc giai cấp ngày càng giống các hình thái tư bản chủ nghĩa điển hình, với mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp công nhân và tư bản (trong nước và quốc tế) ngày càng rõ nét. Giai cấp công nhân Việt Nam hiện có khoảng 24.5 triệu người, chiếm gần 1/3 lực lượng lao động. Giai cấp này ngày càng lớn mạnh, ngày càng có học thức và trình độ văn hoá cao hơn thế hệ trước. Việc không có công đoàn độc lập cộng thêm vai trò phản động của công đoàn nhà nước khiến giai cấp này chưa được tổ chức, thiếu kinh nghiệm đấu tranh, có thể nói là một giai cấp vô sản còn đang say ngủ.
Trong khi đó, giai cấp tư sản Việt Nam lại phát triển dưới sự bảo trợ của nhà nước và phụ thuộc vào vốn ngoại hơn là dựa trên sức mạnh tích lũy nội tại. Những “đại tập đoàn tư bản đỏ” trong các lĩnh vực bất động sản, ngân hàng, xây dựng… hưởng lợi lớn từ quá trình cổ phần hóa và phát triển đất đai, nhưng lại không đầu tư đáng kể vào sản xuất công nghiệp và công nghệ nền tảng. Họ trở thành cầu nối cho tư bản ngoại trong việc chiếm đoạt giá trị thặng dư từ lao động trong nước — vai trò của một tầng lớp môi giới đầy mâu thuẫn.
Tầng lớp tiểu thương, tiểu sản xuất và nông dân nhỏ — vốn là cơ sở xã hội rộng lớn của chế độ — đang bị đẩy vào khủng hoảng sinh kế: thu hồi đất cho phát triển công nghiệp – đô thị hóa, cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu giá rẻ, và gánh nặng thuế – quy chuẩn mới. Mỗi cuộc giải tỏa đất đai, mỗi lần siết quản lý chợ truyền thống đều đẩy hàng triệu người vào vị trí lao động làm thuê. Tất cả điều đó đang tạo ra một xã hội hiện đại phân hóa mạnh hơn bao giờ hết: giàu – nghèo tách biệt, bất bình đẳng gia tăng, tầng lớp lao động trẻ không còn tin vào lời hứa “đổi đời nhờ chăm chỉ”. Ngày qua ngày, sự phân hoá này làm đơn giản hoá đấu tranh giai cấp thành cuộc đối đầu chính giữa hai giai cấp là vô sản và tư sản. Nó làm gia tăng hàng ngũ của những người vô sản về mặt số lượng và chất lượng, thêm vào đó các thành phần tiểu tư sản, trí thức, nông dân bị bần cùng hoá.
Trước bộ máy đàn áp tinh vi của công an và nhà nước, cộng thêm sự lừa bịp và thoả hiệp giai cấp của những tổ chức lao động và tổ chức quần chúng của ĐCS, giai cấp công nhân gặp hàng ngàn gian khó trong việc đấu tranh và tổ chức. Bởi vì sự trỗi dậy của đẳng cấp quan liêu và quyền lực của nó, cũng như hàng thập kỷ chiến tranh gây tổn thất nặng nề cùng giai đoạn hậu chiến nghèo khó và gian khổ, mà giai cấp công nhân Việt Nam đã say ngủ và tạm chấp nhận hoàn cảnh của nó từ sau chiến tranh. Giờ đây, trước tình hình nguy cơ khủng hoảng cận kề ở Việt Nam và toàn cầu, cùng tình hình kinh tế ngày càng kham khổ của mình, nó đã bắt đầu dần dần tỉnh ngộ và tham gia vào đấu tranh ngày càng nhiều hơn.
Phong trào lao động năm 2025 đánh dấu bước chuyển từ phản ứng tự phát sang các cuộc đấu tranh có tính toán và tổ chức chặt chẽ hơn. Dù số lượng cuộc đình công ghi nhận ở mức thấp (55 cuộc), nhưng các phong trào này không còn là những vụ việc đơn lẻ mà bắt đầu lan rộng theo cả chiều dọc (giữa các cơ sở của cùng một doanh nghiệp) và chiều ngang (giữa các nhà máy khác tập đoàn, khác ngành nghề trên cùng một địa bàn tỉnh), thông qua các mạng lưới quan hệ không chính thức. Công nhân không chỉ đòi quyền lợi kinh tế trước mắt mà bắt đầu sử dụng đình công như một công cụ để can thiệp vào việc tổ chức lao động và đòi quyền kiểm soát điều kiện sản xuất.
Ví dụ, đình công tại tập đoàn Nitori (tháng 8/2025) là minh chứng điển hình cho sự trưởng thành về ý thức và khả năng tự quản của công nhân trong doanh nghiệp FDI. Thay vì ngừng việc ngay lập tức, công nhân đã chuẩn bị trong một tuần, tự tính toán mức chi tiêu sinh hoạt và lạm phát để đối thoại một cách khoa học với ban giám đốc về chính sách thưởng không minh bạch. Họ đã thực hiện mọi bước mà họ có thể làm, từ đối thoại đến đình công. Họ đã tự mình trải qua và học bài học trong thực tế rằng đối thoại không giải quyết được vấn đề, rằng công đoàn và chính quyền đều về phe chủ tư bản. Cuộc đình công quy mô 5.000 người, lan ra 2 cơ sở ở 2 tỉnh khác nhau của tập đoàn này thể hiện sự đoàn kết bền bỉ: công nhân tự tổ chức hậu cần (dựng lều, chia ca nghỉ), duy trì kỷ luật tập thể để tránh bị quy kết “gây rối” và cử người đại diện dũng cảm đối mặt với sự đe dọa sa thải. Đặc biệt, “ký ức tập thể” và lòng tin của những lao động lâu năm tại đây đã giúp họ duy trì đấu tranh dù bị cô lập về thông tin và chịu sức ép từ chính quyền.
Sự kiện tại Thanh Hóa (tháng 3/2025) cho thấy khả năng liên kết quy mô lớn của giai cấp công nhân vượt ra ngoài phạm vi một nhà máy. Chỉ trong 7 ngày, hơn 25.000 công nhân từ 10 công ty khác nhau đã đồng loạt đình công để yêu cầu tăng lương tối thiểu vùng. Chuỗi phản kháng này không phải là các vụ việc tách rời mà có tính lan truyền rõ rệt, bắt đầu từ một nhà máy rồi lan sang các doanh nghiệp khác trong cùng địa bàn và cùng tập đoàn. Điều này chứng minh công nhân đã hình thành được sự thống nhất về lợi ích giai cấp trên quy mô toàn tỉnh, buộc hệ thống chính quyền và công đoàn phải can thiệp sát sao để ngăn chặn sự mở rộng của phong trào. Sự kiện được gọi là “tuần lễ đình công” đánh dấu sự phản kháng với chính sách cản trở đình công, kéo dài hơn 5 ngày – độ dài đình công thường thấy tại Việt Nam. Hơn 14.000 công nhân của các nhà máy tiếp theo sẵn sàng đình công trong tuần 2 nhưng đã bị công an và công đoàn can thiệp và ngăn chặn. Thông tin về các cuộc đình công bùng nổ đến nỗi chính quyền phải chặn phủ đầu bằng những tít báo như:“Cảnh giác với thông tin xấu, độc, sai sự thật về vụ việc ông nhân ngừng việc tập thể”.
Một ví dụ nữa là cuộc đình công của hàng trăm tài xế công nghệ tại Hà Nội vào tháng 7/2025 để phản đối mức cước giảm sâu xuống 2.600đ/km. Dù bị cản trở bởi thuật toán và sự can thiệp của chính quyền, việc tài xế tự lập các nhóm trực tuyến để phối hợp hành động cho thấy mâu thuẫn lao động – tư bản vẫn thúc đẩy nhu cầu tổ chức ngay cả trong không gian số phân tán.
Chúng ta đang ở một thời kỳ chuyển biến trong cuộc đấu tranh giai cấp, hứa hẹn một sự bùng nổ và thức tỉnh từ phía quần chúng chống lại những đòn tấn công từ giai cấp tư bản đang đi tới khủng hoảng. Nó đánh dấu khởi đầu đà lên của phong trào công nhân ở VN.
Vấn đề lớn nhất của phong trào là nó mang tính tự phát, hoàn toàn không có lãnh đạo hay cương lĩnh hành động nhất quán, bởi những lãnh đạo từ Liên đoàn lao động hay công đoàn đều đã phản bội lợi ích công nhân, chỉ có vai trò là tay sai cho ĐCS, và bởi thế là tay sai cho sự thoả hiệp giai cấp và lợi ích của tư bản. Sự thiếu vắng lãnh đạo này là điểm yếu lớn nhất, khiến phong trào khó liên kết, khó học được từ kinh nghiệm hiện tại và quá khứ, và cũng yếu kém về mặt tư tưởng và lý luận. Đó cũng là lý do mật thiết nhất và cấp bách nhất cho sự cần thiết can thiệp của những người Cộng sản thực thụ vào phong trào lao động.
PHONG TRÀO CÁNH TẢ
Trước những áp bức và hoàn cảnh dã man này, nhiều người đặc biệt là người trẻ đã càng đi về phía cánh tả, với một ý chí chống áp bức bóc lột kiên cường. Tiếc thay, hiện tại vì thiếu vắng sự lãnh đạo của những người Cộng sản và một góc nhìn đấu tranh giai cấp, các phong trào căn tính, dân sự mới chỉ dừng lại ở những yêu cầu tư sản và được dẫn dắt bởi phái tự do tư sản, bởi thành phần tiểu tư sản.
Các phong trào và tổ chức này chẳng bao giờ đấu tranh giai cấp hoặc chỉ ra vấn đề giai cấp dù có thể có luận điệu cấp tiến, và họ càng khiếp sợ trước các yêu cầu chính trị hay thảo luận chính trị. Với giới hạn đó, các phong trào này không những không thành công trong việc thu hút phần lớn bộ phận vô sản ủng hộ và không thể thống nhất giai cấp, họ còn không có cách nào để thu được kết quả ngoài việc chờ đợi và nài nỉ chính quyền, dù có thành công cũng chỉ đạt được những cải cách nhỏ lẻ. Những “chiến thắng” này không hề thay đổi đáng kể hoàn cảnh sống hay sự áp bức lên những nhóm thiểu số, càng không thể thực sự giải phóng họ.
Thêm nữa, với những luận điệu “chính trị căn tính”, họ còn vô hình chung chia rẽ và chỉ điểm các thành phần trong giai cấp vô sản là “kẻ áp bức”. Ví dụ như cho rằng nam giới áp bức phụ nữ, người dị tính áp bức người đồng tính, v v .… tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa cá nhân, cá thể, thay vì phân tích hệ thống, hoặc nếu có phân tích hệ thống thì cũng chẳng chỉ điểm được chủ nghĩa tư bản, mà lại là “gia trưởng” hay “dị tính thống trị”, v v. Điều này không những sai lầm vì không nhìn thấy được nguồn gốc của áp bức là xã hội giai cấp và chủ nghĩa tư bản đã nảy sinh và lợi dụng, kiến tạo sự chia rẽ và kì thị, mà nó còn tạo rào cản cho sự đoàn kết giai cấp vô sản trong công cuộc đấu tranh chống mọi thể loại áp bức và bóc lột.
Những người cộng sản kiên quyết đấu tranh cho sự đoàn kết của giai cấp vô sản, chống lại mọi áp bức bóc lột căn tính, ủng hộ sự giải phóng của toàn xã hội, và vì thế kiên quyết đấu tranh chống lại bất kì thái độ kỳ thị nào, vốn chỉ là món bài “chia để trị” từ giai cấp tư bản. Cách đấu tranh tốt nhất và duy nhất không phải bằng giảng giải và chỉ điểm giữa các nhóm thiểu số, mà bằng cách tập hợp tất cả dưới ngọn cờ vô sản và mục đích giai cấp chung, để từ đó qua đấu tranh, giai cấp vô sản sẽ tự thấu hiểu chính nó và lẫn nhau. Chỉ bằng việc xoá bỏ xã hội giai cấp, và dùng kinh tế kế hoạch dân chủ để cung cấp cho mọi nhu cầu vật chất khác nhau của từng nhóm người, mà ta mới có thể có một xã hội không có áp bức và không có lý do gì để duy trì áp bức.
VAI TRÒ CỦA NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN
Ngày càng nhiều một bộ phận cấp tiến và can đảm nhất của người trẻ và người lao động đã tham gia vào chính trị, vào các phong trào như ủng hộ Palestine, chống diệt chủng, hay đơn giản chỉ là bị thu hút bởi lý tưởng của chủ nghĩa Marx, của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sự hiện diện của một bộ phận đối lập cánh tả hiện tại mới chỉ dừng ở tương tác trên mạng, ở những trang thông tin, quan điểm, tiếng nói cá nhân tuyên truyền nội dung cánh tả.
Nếu những người này có tổ chức, thì hiện tại mới chỉ dừng ở những nhóm nhỏ, hầu hết dựa trên quen biết cá nhân hoặc chỉ tập trung vào một chủ đề, vấn đề chính trị nhất định. Họ chưa gắn bó được các vấn đề riêng lẻ với nhu cầu cần thay đổi hoàn toàn xã hội. Một số người thì chỉ ham mê theo các phong trào, hết cái này đến cái kia, tuỳ theo dòng sự kiện, mà sau đó ngoài các hoạt động thiện nguyện hoặc tuyên truyền, chẳng để lại được một tổ chức hay gây dựng được một đội ngũ để tiếp tục hoạt động chính trị chuyên nghiệp. Và đương nhiên, thiếu vắng một sự đồng nhất về lý thuyết chính trị, việc cãi vã và chia rẽ trong cánh tả cũng khiến nhiều nỗ lực tiêu vong, khiến nhiều người nản chí và bỏ cuộc.
Việc các nhóm đoàn kết, các nhóm từ thiện mang màu sắc chính trị đã đang mọc lên trong giới trẻ thể hiện rõ rằng ý thức của một bộ phận người dân đang tiến đến cánh tả. Thế nhưng hạn chế chính của các hình thức này là việc thiếu vắng sự tổ chức theo đường lối và lý tưởng đúng đắn của chủ nghĩa Marx, bởi vậy không hề có một chương trình chính trị đầy đủ, thiếu một phương pháp tổ chức và tổng quan lý luận vững chắc.
Với tầm nhìn về bình ổn tương đối trên bình diện kinh tế chính trị trong tương lai gần, phần lớn cánh tả chìm trong một sự thất vọng và trầm cảm, nhiều người bi quan cho rằng giai cấp vô sản Việt Nam quá yếu, quá ngu ngốc hay bị ru ngủ bởi tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc nên sẽ không thể làm cách mạng được. Nhưng điều này hoàn toàn thiếu cơ sở lịch sử và là một góc nhìn phiến diện, bỏ qua các quá trình và biến động trong ý thức quần chúng. Vấn đề không phải là liệu giai cấp vô sản sẽ đứng lên đấu tranh hay không, mà câu hỏi ở đây là, khi họ nổi dậy, họ sẽ làm gì và đấu tranh như thế nào?
Chẳng cần tìm đâu xa xôi trong lịch sử, các phong trào cách mạng gần đây cho ta thấy bài học quan trọng đã được đúc kết từ hơn 100 năm trước: rằng sự tồn tại của một đảng Cộng sản Cách mạng quần chúng là yếu tố then chốt để lật đổ chủ nghĩa tư bản, để cách mạng thành công.
Ví như Bangladesh hay Nepal, đều là hai nước thậm chí nền kinh tế còn lạc hậu hơn Việt Nam, giai cấp vô sản còn yếu và ít hơn trong tương quan lực lượng xã hội so với Việt Nam, nhưng một khi quần chúng đã nhất trí thì không gì có thể cản được họ. Thế nhưng, thiếu vắng một đảng Cộng sản với đường lối đúng đắn, và với ảnh hưởng đủ mạnh trong quần chúng, cả hai nước này đều hiện tại đang đi theo con đường cải cách tư sản, bầu ra một lãnh đạo tư sản mới, chứ chưa hề đi đến lật đổ mô hình sản xuất tư bản vốn là nguồn cơn vấn đề. Dù ở Bangladesh và Nepal đều có các đảng “Cộng sản” hay “Xã hội Chủ nghĩa”, thậm chí có quyền lực, thuộc chính phủ hay có lịch sử lâu dài, họ đều chẳng có chương trình hay đề nghị cách mạng nào, không có đường lối đúng đắn kêu gọi quần chúng lật đổ chính quyền và tái thiết chủ nghĩa xã hội. Thay vào đó, họ bám đuôi phe tư sản cải cách yêu cầu các thay đổi chấp nhận được trong hệ thống tư bản.
Ở Việt Nam cũng vậy: nếu không có một đảng Cộng sản Cách mạng được xây dựng từ trước, với lực lượng đủ lớn để có ảnh hưởng, với tài nguyên và một chương trình chính trị đúng đắn, một phương pháp lý thuyết sắt đá, thì khi quần chúng nổi dậy phong trào sẽ bị phí hoài. Thiếu vắng một góc nhìn cộng sản và lập trường đấu tranh giai cấp, phong trào quần chúng có thể bị thất bại, không thể đi tới triệt để do thiếu vắng lãnh đạo, hoặc tệ hơn, bị đưa vào ngõ cụt do lãnh đạo tồi tệ. Nó có thể bị lợi dụng để ủng hộ cải cách thay vì lật đổ ĐCS, hoặc đi theo hướng phản động ủng hộ chủ nghĩa tư bản, thâm chí ủng hộ sự can thiệp từ đế quốc khi chính quyền đã mất hết lòng tin của dân.
Để có một đảng Cộng sản có thể đảm bảo cách mạng thành công, cần phải xây dựng nó trên nền móng tư tưởng và phương pháp đúng đắn – phương pháp của chủ nghĩa Bolshevik, là phương pháp duy nhất đã thành lập một nhà nước công nhân khoẻ mạnh và đã đưa vô sản lên nắm quyền ở một nước lạc hậu là nước Nga thời bấy giờ. Để xây dựng được một tổ chức như thế, ắt thiết phải có gây dựng cẩn thận từ trước trong vòng nhiều năm, là điều kiện mà chúng ta sẵn có ở hiện tại. Quan trọng hơn, tổ chức này cần phải tập hợp những thành phần thiện chiến nhất, can đảm nhất, chuyên nghiệp và sẵn sàng hy sinh nhất, những thành phần được gọi là “tiên phong” trong giai cấp đã đạt đến tỉnh ngộ lý tưởng trước phần lớn quần chúng. Từ việc kiên trì tổ chức những người này, tôi luyện lẫn nhau bằng kỷ luật cách mạng, hoạt động thực tiễn lẫn bàn luận và giáo dục lý thuyết, mới có thể tạo ra được những cán bộ mà tự họ sẽ là nền móng cho một tổ chức quần chúng sau này.
Chúng ta cần xây dựng một tổ chức Bolshevik – một tổ chức cách mạnh của những người cách mạng chuyên nghiệp, dựa trên một cương lĩnh và một chương trình thống nhất, và hoạt động với sự tập trung dân chủ. Cần tranh thủ thời kỳ ổn định tương đối này để đào tạo những người cán bộ Bolshevik, những người mà, khi quần chúng bắt đầu di chuyển và hướng tới chủ nghĩa xã hội, họ sẽ trở thành băng chuyền lý tưởng cộng sản trong quần chúng, đưa quần chúng đến với đảng cách mạng. Dù điều kiện an ninh có khó khăn, dù phải hoạt động bí mật và cẩn trọng tột độ, tất cả những rào cản ấy phải được vượt qua để đi tới chiến thắng của chủ nghĩa xã hội.
Tranh Đấu nhất quyết xây dựng một tổ chức như vậy, dựa trên lý tưởng của Marx, Engel, Lenin, và Trotsky, dựa trên phương pháp lý thuyết khoa học của chủ nghĩa Marx là duy vật biện chứng. Chúng tôi đứng trên một lập trường cách mạng kiên định, rằng cần phải có một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam để lật đổ chủ nghĩa tư bản, lật đổ đảng phái quan liêu cầm quyền giả danh “cộng sản”, và thành lập một nhà nước công nhân dân chủ, tiến hành quốc hữu hoá và kế hoạch hoá nền kinh tế. Nhưng chủ nghĩa cộng sản sẽ không thể được xây dựng trong một quốc gia và sẽ không tôn trọng đường biên giới: chúng tôi đấu tranh cho sự đoàn kết của nhân dân vô sản toàn cầu, vì một liên đoàn Cộng sản thống nhất ở Đông Nam Á và trên toàn thế giới.
Nếu bạn là một người cộng sản, nếu bạn căm ghét chủ nghĩa tư bản và muốn thay đổi xã hội bằng một cuộc cách mạng cộng sản, hãy tham gia cùng chúng tôi trong công cuộc giải phóng quần chúng Việt Nam và vô sản toàn thế giới! Chúng tôi tin rằng, sẽ không còn lý tưởng nào xứng đáng đấu tranh hơn
- Trong tác phẩm “Ngày 18 tháng sương mù của Louis Bonaparte,” https://www.marxists.org/archive/marx/works/1852/18th-brumaire/ch07.htm ↩︎
- Đọc thêm về các nghiên cứu liên quan tại https://www.researchgate.net/publication/350902523_Cac_yeu_to_anh_huong_den_doi_moi_cong_nghe_tai_cac_doanh_nghiep_vua_va_nho_cua_Viet_Nam#read ↩︎
