Một trăm năm về trước, một cuộc cách mạng vô sản gần như đã xảy ra ở Trung Quốc, vùng đất phong kiến nửa thuộc địa đông dân nhất thế giới. Chỉ trong 2 năm, hàng triệu công nhân và sinh viên đã tự tổ chức các đơn vị tự vệ vũ trang, chiếm đóng nhà máy, đình công và biểu tình rầm rộ làm tê liệt đám quan chức phong kiến, quân phiệt và khiến đối thủ tư sản dân tộc phải e sợ. Dù vậy, triển vọng về một cuộc cách mạng bên ngoài nước nhà nước Soviet, phá vỡ thế bao vây của nhà nước công nhân và mở đường cho cách mạng thế giới đã bị dập tắt trong bể máu trước họng súng Quốc Dân Đảng và sự bạc nhược trong hàng ngũ lãnh đạo cộng sản. Bài viết sẽ mô tả sự phát triển và thất bại của Cách mạng Trung Quốc 25 – 27 và trình bày những bài học được viết bằng xương máu cho người Cộng sản ngày nay.

Trung Quốc đầu thế kỉ XX
Là một đất nước rộng lớn, dân số khổng lồ, Trung Quốc đã luôn là một thế lực mạnh mẽ xuyên suốt lịch sử cổ và trung đại của thế giới. Nhờ sở hữu một lãnh thổ tương đối thống nhất, vùng đồng bằng Giang Hoài màu mỡ, rộng lớn và dồi dào, khí hậu thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp trồng trọt, các chính quyền phong kiến Trung Quốc đã liên tục phát triển và mở rộng lực lượng sản xuất, phát triển dân số và không ngừng mở rộng lãnh thổ. Bước ngoặt xảy ra vào khoảng thế kỉ thứ III TCN, khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, đặt ra chế độ quân chủ chuyên chế, đóng góp vào sự hình thành của một lãnh thổ thống nhất dưới sự cai trị của lãnh đạo tối cao. Chế độ này có khả năng tập trung, điều phối nguồn lực khổng lồ thông qua thuế khóa, lao dịch và chế độ quan liêu. Thông qua triết lý “Thiên mệnh”, đất nước là của hoàng đế, đổi lại là nghĩa vụ chăm lo cho trăm họ, giữ ổn định trật tự xã hội.
“Khắp dưới gầm trời, không đâu không phải đất của vua; khắp nơi ven cõi, không ai không phải bề tôi của vua.” – Kinh Thi
Nền sản xuất nông nghiệp phong kiến tập quyền nơi đất đai là tư liệu sản xuất chính mang trong nó những mầm mống khủng hoảng mang tính chu kì do xu hướng tập trung vào tay địa chủ, phú hào của nền sản xuất nông nghiệp, đẩy người nông dân vào thế tha phương cầu thực và gây ra những phong trào khởi nghĩa nông dân, biến động chính trị, dẫn tới sự thay triều đổi đại. Dù vậy, nhờ các điều kiện tự nhiên và dân số khổng lồ, các triều đại quân chủ tập quyền đã tối ưu nền sản xuất nông nghiệp phong kiến và xây dựng một nền kinh tế tự cung tự cấp hiệu quả. Người Trung Quốc ngạo nghễ gọi nền văn minh của mình là Hoa Hạ – tự coi mình là trung tâm của thế giới.
Mọi thứ thay đổi với cuộc chiến tranh Nha phiến (1839 – 1842, 1856 – 1860), Trung Quốc bắt đầu bước vào giai đoạn “bách niên quốc sỉ”, bị xâu xé bởi hàng loạt đế quốc toàn cầu. Khi nhà Thanh phản ứng bằng việc cấm đoán và đóng cửa các cửa hàng buôn thuốc phiện của Anh tại Trung Quốc, đế quốc Anh đã khởi xướng 2 cuộc chiến tranh Nha phiến. Nhà Thanh thất bại thảm hại trước họng súng của đế quốc phương Tây và buộc phải kí hàng loạt hiệp ước bất bình đẳng, nhượng các vùng tô giới quan trọng và mở cửa thị trường khổng lồ cho hàng hóa phương Tây tràn vào. Cuộc va chạm này không chỉ là cuộc va chạm giữa hai quốc gia đơn thuần, mà là sự va chạm giữa nền văn minh nông nghiệp lạc hậu và một nền sản xuất công nghiệp hoàn thiện, hiệu suất cao. Hàng chục vạn quân Trung Quốc theo cơ chế quan liêu phong kiến thua liểng xiểng trước một đội viễn chinh khoảng 19.000 người được tổ chức tốt, linh hoạt và khoảng 37 tàu chiến luân phiên.
Nguyên nhân của Chiến tranh Nha phiến tới từ vận động nội tại của chủ nghĩa tư bản, đó là sự đói khát thị trường mới và nhu cầu thống soát cán cân thương mại. Ở giai đoạn Chiến tranh Nha phiến, Anh đã hoàn thành Cách mạng công nghiệp lần thứ I, nhờ đó trở thành cường quốc hàng đầu châu Âu. Nhưng ở đây xảy ra một mâu thuẫn mà chỉ một nền sản xuất nông nghiệp khổng lồ như Trung Quốc khi ấy mới đủ sức tạo ra. Nền sản xuất khổng lồ của thực dân Anh, phát triển dựa trên công nghiệp, cơ khí lại không thể tạo ra ưu thế thương mại so với nền sản xuất nông nghiệp, thủ công của nhà Thanh khi ấy. Nhu cầu của Anh với hàng hóa xa xỉ phẩm tinh xảo của Trung Quốc (gốm, trà, vải vóc…) dẫn tới thâm hụt thương mại nghiêm trọng giữa Anh và nhà Thanh.
Trong giai đoạn 1827 – 1854, Trung Quốc xuất khẩu hàng hóa sang Anh với giá trị ròng khoảng 37.313 triệu rupee công ty Đông Ấn. Trong cùng giai đoạn, dòng bạc ròng từ Anh vào Trung Quốc chỉ khoảng 1.567 triệu rupee. Quy mô kinh tế và lợi nhuận của đế quốc Anh suy giảm do nguồn bạc chảy vào Trung Quốc, ảnh hưởng tới việc duy trì khả năng thanh toán, và khiến thị trường tài chính Anh bớt tự tin hơn trong các quyết định cho vay, tác động trực tiếp tới đầu tư tư bản và tạo lợi nhuận. Để đảo ngược cán cân thương mại, đế quốc Anh tăng cường xuất khẩu nha phiến và dẫn tới các mâu thuẫn kể trên giữa nhà Thanh và đế quốc Anh. Từ giai đoạn 1827 – 1854 sang 1855 – 1877 (sau chiến tranh), tỷ lệ giữa xuất khẩu ròng của Trung Quốc sang Anh và lượng bạc ròng chảy vào Trung Quốc giảm mạnh, từ 23,82 lần xuống còn 2,66 lần.
Cuộc chiến không chỉ làm suy yếu nhà Thanh, mà còn dẫn lịch sử Trung Quốc tới một giai đoạn mới. Kể từ sau chiến tranh Nha Phiến, Trung Quốc cùng hòa vào sự phát triển của tư bản thế giới. Tư bản nước ngoài bắt đầu chảy vào Trung Quốc cùng với đó là sự phát triển của giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc, họ phát triển mạnh sau sự sụp đổ của nhà Thanh và từ quá trình công nghiệp hóa từ dòng chảy tư bản nước ngoài. Nhờ Thế chiến I, tư sản Trung Quốc tranh thủ được một thời gian ngắn ngủi để phát triển, đặc biệt các ngành công nghiệp nhẹ như dệt, thực phẩm, thuốc lá, hóa chất… Dù vậy, điều kiện ở Trung Quốc khi ấy không thuận lợi để giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc có thể phát triển tối đa.
Một mặt là vì bối cảnh quân phiệt cát cứ, tạo rào cản thị trường thống nhất, vận tải – giao thương và phát triển hạ tầng. Mặt khác, tư bản nước ngoài chiếm dụng các vùng tô giới và hưởng đặc quyền thuế khóa làm đe dọa nghiêm trọng tới khả năng tích lũy và sự phát triển của tư sản Trung Quốc. Trung Quốc phải chịu mức thuế nhập khẩu 5% (được quy định bởi ngoại quốc), đánh mất hoàn toàn tự chủ thuế quan. Thiếu một chính quyền trung ương mạnh để bảo vệ quyền lợi cho mình, tư sản Trung Quốc không thể cạnh tranh trực tiếp với tư sản nước ngoài. Điều này khiến tư sản dân tộc Trung Quốc có tinh thần phản đế mạnh mẽ, muốn xây dựng nhà nước độc lập và thống nhất. Đây là tiền đề cho cuộc cách mạng Tân Hợi sau này.
Để so sánh, ở cùng thời điểm, giai cấp tư sản Nhật sau phong trào Minh Trị Duy Tân đã trở nên mạnh mẽ. Chính phủ Nhật cung cấp ô bảo hộ pháp lý và phân bổ đầu tư cơ sở hạ tầng (đường sắt, khai mỏ…), thúc đẩy đầu tư tư bản, bóc lột lao động trong nước. Điều này tạo dung môi thuận lợi giúp hình thành các tập đoàn tư nhân lớn (zaibatsu) như Mitsubishi, Sumimoto, Mitsui… có khả năng đứng độc lập. Nhờ vậy, Nhật Bản đã công nghiệp hóa đất nước, đủ sức để chiến thắng các đế quốc lạc hậu như Nga (1904 – 1905), hoàn toàn áp đảo nhà Thanh, trở thành thế lực đế quốc chủ đạo tại Đông Á và bắt đầu ráo riết quá trình thuộc địa hóa, tìm kiếm thị trường, mở rộng ảnh hưởng.

Chứng kiến sự bạc nhược của nhà Thanh và ảnh hưởng bởi các phong trào Tây học sau chiến tranh Nha phiến, dẫn đầu bởi Tôn Trung Sơn, giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc tiến hành Cách mạng Tân Hợi (1911) và thành lập Quốc Dân Đảng sau đó. Dù là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự sụp đổ của chế độ phong kiến nhà Thanh, song tư sản dân tộc Trung Quốc quá yếu để có thể thực hiện một cuộc cách mạng triệt để và không thể lên nắm quyền. Trong Cách mạng Tân Hợi, nguồn lực tài chính cho cách mạng chủ yếu tới từ các nhà hảo tâm và cộng đồng Hoa Kiều, sau khi nhà Thanh sụp đổ, tư sản Trung Quốc không thể huy động thêm nguồn lực để tiếp tục tiến hành cách mạng. Mặt khác, dù có chương trình “Bình quân địa quyền” (平均地权), Quốc Dân Đảng chưa thực chất tiến hành cải cách ruộng đất, đánh vào địa chủ để phân chia ruộng đất cho nông dân. Do vậy, họ không tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi từ giai cấp nông dân – thành phần chủ đạo trong xã hội Trung Quốc trước đó (Kể cả sau này, khi Tôn Trung Sơn đưa ra khẩu hiệu “Người cày có ruộng” vào năm 1924, Quốc Dân Đảng cũng không thực hiện một cuộc cải cách ruộng đất triệt để nào).
Cách mạng Tân Hợi hụt hơi sau 1 năm, Tôn Trung Sơn không còn có thể huy động tài trợ từ Hoa Kiều, còn các đầu sỏ tài chính nước ngoài thì chọn đầu tư cho Viên Thế Khải thông qua khoản vay 25 triệu bảng (Reorganization Loan – 善后大借款) được thế chấp bằng quyền thuế muối của TQ. Liệu thế không thể đương đầu với đạo quân Bắc Dương – một đội quân tinh nhuệ được dốc sức đầu tư hiện đại hóa theo kiểu phương Tây của Viên Thế Khải, phe tư sản Trung Quốc buộc phải chọn một giải pháp mạo hiểm. Năm 1912, Tôn Trung Sơn nhượng bộ chức Tổng thống cho cho Viên Thế Khải. Kết cục là Viên Thế Khải lật lọng, tự xưng Hoàng đế. Cái chết của Viên mở đường cho thời kỳ quân phiệt kéo dài hàng chục năm trong lịch sử Trung Quốc, đe dọa phần lớn thành quả của cách mạng Tân Hợi, tiếp tục dìm Trung Quốc trong sự trì trệ. Xiềng xích đế quốc kết hợp với xiềng xích từ đám quân phiệt, trỗi dậy từ sự suy thoái của nhà Thanh tiếp tục làm gia tăng mâu thuẫn xã hội trong xã hội Trung Quốc.
Sự trở lại của giai cấp tư sản phương Tây sau Thế chiến II tiếp tục khiến tư sản Trung Quốc chịu áp lực ngày càng ngặt nghèo và tiềm năng phát triển ngày càng ngặt nghèo. Hàng hóa Trung Quốc khó cạnh tranh với hàng nước ngoài được ưu đãi thuế quan thuận lợi thông qua các khu vực tô giới. Tư bản Trung Quốc cũng không thể huy động vốn quy mô lớn như các ngân hàng quốc tế. Ngoại thương bị kiểm soát, ước tính ngân hàng nước ngoài kiểm soát 90% nguồn tài chính thương mại quốc tế của Trung Quốc khi ấy. Cơ sở hạ tầng quan trọng như đường sắt cũng bị nắm giữ bởi tư bản nước ngoài (VD: Tuyến đường sắt Thiên Tân – Phố Khẩu).
Song hành cùng với giai cấp tư sản là sự ra đời của lứa giai cấp công nhân đầu tiên của Trung Quốc. Tận dụng nguồn lao động khổng lồ, rẻ mạt ở các thành phố ven biển phía Đông, tư bản nước ngoài bắt đầu đầu tư xây dựng các nhà máy với dây chuyền sản xuất thuộc hàng hiện đại nhất. Điều này dẫn tới sự xuất hiện của giai cấp công nhân đầu tiên của Trung Quốc, với khoảng 2 triệu người, tập trung ở các thành phố ven biển phía Nam như Thượng Hải, Quảng Đông, Hàng Châu. Cùng với họ là khoảng 10 triệu lao động tự do trong các thành thị. Đây là những con số khiêm tốn trong một đất nước hơn 400 triệu người mà phần lớn là nông dân.
Ban đầu họ tập trung ở các tô giới và các trung tâm công nghiệp, phần nhiều là nông dân mất ruộng đất ra thành thị. Giai đoạn trước năm 1919, giai cấp công nhân Trung Quốc vẫn duy trì nhiều tính chất địa phương và quan hệ làng xã, vẫn còn phân tán và chưa có sự liên kết, hoặc liên kết địa phương – huyết thống thay vì liên kết giai cấp. Từ năm 1919, tình hình Trung Quốc trở nên sôi sục. Tại Hội nghị Hòa bình Paris (1919), thay vì trao trả lại các lãnh thổ chủ quyền của Trung Quốc, các nước đế quốc thống nhất nhượng quyền Sơn Đông và nhiều vùng tô giới cho Nhật Bản dẫn tới sự bùng nổ của phong trào Ngũ Tứ năm 1919. Đây là phong trào phản đế của sinh viên, thị dân nhưng đã đánh dấu bước chuyển mới trong phong trào công nhân khi các tư tưởng Marxist, phản đế được công nhân tiếp nhận từ tầng lớp sinh viên, trí thức. Từ năm 1922 – 1923, giai cấp công nhân bắt đầu có sự tổ chức và đã có hơn 100 cuộc đình công với hơn 300.000 công nhân tham gia. Các cuộc đình công của công nhân xuyên suốt 1919 – 1925 dần đưa công nhân trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Tới năm 1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức được thành lập với 50 thành viên đầu tiên, tăng lên khoảng hơn 2,400 người vào năm 1925.
Như vậy, bức tranh các giai tầng xã hội Trung Quốc vào đầu những năm 1920s khá phức tạp. Một mặt, đó là sự tồn tại của những giai tầng cũ: Giai cấp nông dân và tàn dư phong kiến – đẳng cấp địa chủ và quân phiệt. Trong đó, nông dân gần như không nhận được bất cứ thành quả nào từ cách mạng Tân Hợi, lại sôi sục vì bị bóc lột bởi địa chủ, dày xéo bởi quân phiệt và là nguồn nhân công giá rẻ vô tận cho tư bản trong và ngoài nước. Cùng với đó là những giai tầng mới đang trỗi dậy: Giai cấp tư sản – nhỏ, yếu, không có sự độc lập và bị lệ thuộc bởi nước ngoài và giai cấp công nhân – đang phát triển, dần có ý thức đấu tranh và tổ chức chính trị. Tất cả ở trong một lòng chảo nơi hàng loạt mâu thuẫn đan xen nhau: Mâu thuẫn giữa thuộc địa – đế quốc, giữa công nhân – tư sản, giữa nông dân – phong kiến, giữa tư bản trong nước và tư bản nước ngoài.
Lớp Marxist đầu tiên: Sinh trưởng trong thoái trào
Trong bối cảnh đó, một lớp các nhà Marxist Trung Quốc đầu tiên được thoát thai từ sự suy thoái của trật tự phong kiến, dòng chảy tư tưởng phương Tây, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Trung Quốc. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng được truyền bá vào Trung Quốc từ phong trào Tây học hậu Cách mạng Tân Hợi và tác động mạnh mẽ của Cách mạng tháng Mười năm 1917.
Những người Marxists đầu tiên ở Trung Quốc là người Trotskyist, điển hình là Trần Độc Tú. Họ sinh trưởng trong bối cảnh dư âm Cách mạng tháng Mười hãy còn đó, nhưng đã bước vào giai đoạn phản cách mạng. Bối cảnh này sẽ gây ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của phong trào Cộng sản Trung Quốc những năm sau này.
Không thể khước từ những nỗ lực của Trần Độc Tú và các cán bộ Đảng Cộng sản khi ấy trong việc xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh được củng cố bởi nền tảng lý thuyết. Những người cộng sản Trung Quốc ngay từ ban đầu đã đề xuất hoạt động độc lập, họ thành lập Ban Thư ký Tổ chức Lao động Trung Quốc với mục tiêu tổ chức công nhân và giáo dục công nhân, tuyên truyền và hỗ trợ/định hướng đình công. Ban Thư ký này đã thành lập các trường học, trường bổ túc trường học ban đêm cho các công nhân ở Bắc Kinh, Vũ Hán, Quảng Châu, Tế Nam. Họ cũng xuất bản Tuần báo Lao động với mục tiêu đưa lý thuyết cách mạng gần gũi hơn với đời sống công nhân. Đến năm 1922, hơn 100 công đoàn được thành lập dưới sự lãnh đạo của Ban Thư ký với 800.000 thành viên. Ban Thư ký lần đầu tổ chức Đại hội Lao động toàn quốc tại Quảng Châu vào 1 tháng 5 năm 1922. Tình hình Trung Quốc lúc này có nhiều điểm tương đồng với tình hình nước Nga vào giai đoạn 1905 khi các lực lượng vô sản bắt đầu tập hợp và được xây dựng một cách có hệ thống. Triển vọng của một cuộc cách mạng bên ngoài nước Nga dường như đang được thai nghén. Nhưng lịch sử không vận động theo một đường thẳng định trước: những biến cố bất ngờ có thể làm thay đổi tương quan lực lượng và mở ra những quỹ đạo khác nhau, dù bản thân chúng không quyết định kết quả của một quá trình lịch sử.
Sau năm 1921, sức khỏe Lenin bắt đầu suy yếu, thời điểm này đánh dấu sự trỗi dậy của một phe quan liêu trong nhà nước Soviet – một tầng lớp đặc quyền thành hình từ tình hình mới của cách mạng. Khi này, nhà nước công nhân bị cô lập do sự thất bại của các cuộc cách mạng vô sản khác ở châu Âu, đặc biệt là cách mạng Đức, Hungary và sự suy thoái của các phong trào tại Anh, Ý. Giai cấp công nhân rệu rã và mệt mỏi vì chiến tranh. Tình hình này tạo điều kiện cho sự xuất hiện của đẳng cấp quan liêu ăn trên ngồi trốc ký sinh vào nhà nước vô sản với mong muốn cầu an, không chấp nhận rủi ro để phát triển cách mạng ra thế giới.
Theo phân tích của Leon Trotsky, Bản chất của nhà nước Soviet khi này là nhà nước công nhân bị thoái hóa (degenerated workers’ state), nghĩa là một nhà nước nơi không có sự tồn tại của giai cấp tư sản, tài sản và phương tiện sản xuất được quốc hữu hóa nhưng giai cấp công nhân lại không được nắm quyền dân chủ trong việc quản lý, điều phối, giám sát các hoạt động của Liên bang. Thay vào đó, quyền quản lý và phân phối các nguồn lực xã hội ngày càng tập trung vào tay một đẳng cấp quan liêu. Về cơ bản, tầng lớp này duy trì các đặc quyền, đặc lợi của nó dựa trên sự ký sinh vào nền kinh tế của nhà nước vô sản và quyền phân phối nguồn lực nền kinh tế quốc hữu hóa. Những đặc quyền này phụ thuộc vào sự tồn tại của nhà nước quan liêu. Một cuộc cách mạng chính trị đưa giai cấp công nhân trở lại thực hành quyền dân chủ sẽ tước bỏ cơ sở của các đặc quyền đó. Như vậy, một cuộc cách mạng vô sản với mục tiêu thành lập chuyên chế vô sản dựa trên dân chủ công nhân như cách mạng tháng Mười xảy ra bên ngoài Liên Xô sẽ có tiềm năng tạo ra những tác động chính trị sâu sắc tới với giai cấp công nhân Soviet, thức tỉnh họ và do đó, trực tiếp đe dọa tới quyền lợi của đẳng cấp quan liêu. Có thể nói đẳng cấp quan liêu e sợ cách mạng vô sản ở các nước khác còn hơn là sợ đe dọa và vây hãm của đế quốc với chính Liên Xô. Đại diện của phe này là Stalin. (Đọc thêm về sự suy thoái của nhà nước Soviet sau cách mạng tháng Mười tại: https://marxist.com/cu-c-cach-m-ng-b-ph-n-b-i.htm)
Một mặt khác, chính bởi muốn tối đa hóa sự an toàn về mặt quyền lợi của mình, chính quyền quan liêu tránh né những cuộc chiến tranh trực diện với các chính quyền đế quốc. Điều này đã thể hiện ngay trong Chính sách Mặt trận Bình dân trước chiến tranh thế giới thứ II của Stalin. Sau này, dưới thời Khrushev, chính quyền quan liêu thậm chí đã đề ra chính sách Chung sống hòa bình, hợp thức hóa sự hợp tác hòa hoãn với các nhà nước tư bản. Các cuộc chiến tranh ủy nhiệm là công cụ đối ngoại, tranh giành ảnh hưởng thay vì sự thúc đẩy các mạng xã hội chủ nghĩa thực sự.
Về đối nội, Stalin cùng đẳng cấp quan liêu mới đề xuất chính sách “Chủ nghĩa xã hội trong một nước”. Về đối ngoại, để kìm chế tối đa khả năng cách mạng vô sản xảy ra ở các nước khác, thông qua Quốc tế thứ Ba, Stalin vực dậy lý thuyết “hai giai đoạn” của phái Menshevik, cho rằng cách mạng vô sản chỉ có thể xảy ra khi xã hội đạt được mức độ phát triển tư bản mạnh mẽ. Do vậy, ở các nước thuộc địa, bán thuộc địa, Stalin đề xuất chính sách ưu tiên thực hiện cách mạng dân chủ, giải phóng dân tộc, xây dựng chính quyền dân chủ tư sản rồi mới tính tới xã hội chủ nghĩa. Dựa vào lý thuyết này, Stalin khuyến khích “Mặt trận thống nhất” thông qua hợp tác giai cấp, khuyến khích phong trào vô sản ủng hộ hay thậm chí là sáp nhập với các phong trào đấu tranh độc lập tư sản. Chính điều này dẫn tới chính sách thỏa hiệp giai cấp khét tiếng, là nguyên nhân chính yếu cho sự thất bại của các cuộc cách mạng vô sản sau này ở châu Á mà cách mạng Trung Quốc là một nạn nhân.
Tại Hội nghị Tây Hồ tháng 8/1922, đại diện Quốc tế Cộng sản Maring (Sneevliet) đề xuất chiến lược liên minh với Quốc Dân Đảng. Theo đó, đảng viên Đảng Cộng sản sẽ gia nhập Quốc Dân đảng với tư cách cá nhân, trong khi Đảng Cộng sản vẫn giữ tổ chức riêng. Trần Độc Tú và các lãnh đạo Đảng ban đầu phản đối vì e ngại làm mất tính độc lập của tổ chức Đảng, thậm chí e ngại việc nhận hỗ trợ tài chính từ quốc tế cộng sản. Dù vậy, sau đó các lãnh đạo ĐCS buộc phải thỏa hiệp, và nhận hỗ trợ tài chính của Quốc tế thứ Ba. Dần dần, các lãnh đạo ĐCS buộc phải thỏa hiệp lập trường độc lập giai cấp của mình và ngày càng ngả về lập trường của Quốc tế thứ Ba. Điều này sẽ dẫn tới những tai vạ không thể sửa chữa về sau này cho những người cộng sản Trung Quốc.
Và như thế, Stalin tài trợ cho Tôn Dật Tiên tiền bạc, nguồn lực để Tôn xây dựng Quốc Dân Đảng. Nghị quyết của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản (ECCI) ngày 12/1/1923 đánh giá:
Lực lượng cách mạng dân tộc có tổ chức và có thực lực duy nhất ở Trung Quốc là Quốc Dân Đảng. Thành phần của đảng này gồm một bộ phận giai cấp tư sản dân chủ – tự do và tiểu tư sản, đồng thời có sự tham gia của tầng lớp trí thức và giai cấp công nhân.
Do phong trào công nhân độc lập ở Trung Quốc vẫn còn yếu; đồng thời, nhiệm vụ trung tâm của cách mạng Trung Quốc lúc này là tiến hành cuộc cách mạng dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phong kiến tay sai của chúng trong nước; hơn nữa, mặc dù giai cấp công nhân có lợi ích trực tiếp trong việc giải quyết nhiệm vụ cách mạng dân tộc này, nhưng vẫn chưa phát triển đầy đủ để trở thành một lực lượng xã hội hoàn toàn độc lập. Vì vậy, Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản (ECCI) cho rằng cần phải phối hợp hành động giữa Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc còn non trẻ.
Do đó, trong điều kiện hiện tại, việc các thành viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục ở lại trong Quốc Dân Đảng là hợp lý.
Dưới chỉ thị của Stalin, vào năm 1923, Đảng Cộng sản Trung Quốc gia nhập vào Quốc Dân Đảng và trở thành thành phần cánh tả của Quốc Dân Đảng dưới danh nghĩa Mặt Trận Thống nhất lần thứ Nhất. Không những vậy, Stalin thậm chí chấp nhận Quốc Dân Đảng như một bộ phận cảm tình viên của Quốc tế Cộng sản trong Phiên họp toàn thể mở rộng lần thứ 6 của Quốc tế Cộng sản (Jane Degras, 1960, tr 245).
Sự phản bội của Quốc tế thứ Ba dưới sự lãnh đạo của đẳng cấp quan liêu Liên Xô đã đưa phong trào vô sản Trung Quốc vào ngõ cụt. Trái với những người Bolshevik ở Nga, nhấn mạnh vào trọng tâm lý thuyết và xây dựng tổ chức Đảng độc lập. Trong tác phẩm Làm gì? – What is to be done? (1902), Lenin nhấn mạnh: “Không có phong trào cách mạng nếu không có lý thuyết cách mạng”. Từ đó, các hoạt động của đảng Bolshevik đều được đặt trên nền tảng lý thuyết Marxist khoa học vững chắc. Lý thuyết là kim chỉ nam để các thành viên Bolshevik ứng dụng vào phân tích tình hình thực tiễn, đưa ra nhận định và hành động chính xác, hiệu quả. Về tổ chức, đảng Bolshevik được tổ chức độc lập về mặt chính trị với hạt nhân nhà cách mạng chuyên nghiệp, đảm nhiệm nhiều vai trò về giáo dục lý thuyết, tổ chức, tiếp cận tới công nhân, tuyên truyền, chuẩn bị vũ trang. Về thực hành, đảng Bolshevik thành lập báo Iskra – được Lenin coi là “Nhà tổ chức tập thể” (Collective Organizers) và sử dụng Iskra như một kênh giao tiếp, vừa là một công cụ giáo dục giữa các thành viên Bolshevik và công nhân. Những người Bolshevik được trưởng thành trong môi trường cách mạng nóng bỏng và sôi động, là hấp thu được lượng lớn kinh nghiệm từ các phong trào đình công cuối thế kỉ XIX, phong trào 1905, họ tiếp xúc và hoạt động quần chúng thực tiễn.
Trái ngọt của lý thuyết và xây dựng tổ chức đơm chồi nảy lộc trong Cách mạng tháng Mười. Từ việc vận dụng lý thuyết kinh tế chính trị Marxist để hiểu được vai trò và tiềm năng cách mạng của nước Nga với cách mạng thế giới – tạo thành quyết định thực hiện cách mạng tại nước Nga, phản bác nhóm Menshevik, cho tới sử dụng duy vật biện chứng để nắm bắt thời cơ cách mạng, chẩn đoán cao trào và thoái trào cùng các hệ quả của nó xuyên suốt Phong trào 1905, Cách mạng tháng Hai 1917 và Cách mạng tháng Mười, đã giúp những người Bolshevik lèo lái con thuyền cách mạng kinh qua rất nhiều biến đổi, đàn áp. Cùng với đó là dung môi của một tổ chức Đảng vững chắc, nơi những người Đảng viên vững vàng về lý thuyết, mạnh mẽ về tinh thần cách mạng và gần gũi cùng công nhân thông qua trải nghiệm thực tế đã là những yếu tố chủ quan làm nên sự thành công của Cách mạng tháng Mười. Những người Bolshevik với số lượng chỉ vài chục nghìn và giai cấp công nhân khoảng 4 triệu người đã có thể nắm quyền tại nước Nga rộng lớn với dân số gần 200 triệu người.
Bối cảnh Marxist Trung Quốc non trẻ, lực lượng cách mạng mỏng, sự thiếu kiên quyết có nguyên nhân từ thiếu hụt nền tảng lý thuyết và sự áp chế của Quốc tế Cộng sản đã khiến các lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không thể thực hiện được đường lối độc lập giai cấp và nghiêng về thỏa hiệp. Hậu quả từ những chính sách và hành động này sẽ được chứng minh rõ rệt qua cuộc cách mạng 1925 – 1927.
Mặt trận Thống nhất lần thứ Nhất, chiến dịch Bắc phạt của Tưởng và sự phản bội đầu tiên
Năm 1925, phong trào biểu tình sinh viên bùng phát thành phong trào 30/5, khi sinh viên tại Thượng Hải bị đàn áp trong bạo lực bởi cảnh sát đế quốc. Phong trào nhanh chóng lan ra toàn quốc trở thành một phong trào phản đế quốc – chống quân phiệt. Để hưởng ứng, công nhân Quảng Đông – Hồng Kông tiến hành đình công. Số Đảng viên của Đảng Cộng sản tăng lên tới 12,000 người.

Trong tình thế đó, sau cái chết của Tôn Trung Sơn, vào năm 1926, Tưởng tiến hành binh biến để thanh trừng các thành phần cánh tả – thân cộng – cộng sản ra khỏi Quốc dân Đảng. Các tổ chức công nhân bị cấm đoán, các cố vấn Liên Xô bị bắt giữ và trục xuất, lực lượng tự vệ bán quân sự của công nhân bị giải tán thành viên Đảng Cộng sản không được chiếm 1/3 trong các ủy ban địa phương, cơ quan đảng và cũng không được đóng vai trò lãnh đạo trong các sở nhiệm hay chính phủ. Đối mặt với sự đàn áp của Quốc Dân Đảng, Trần Độc Tú đề xuất Đảng Cộng sản tách rời và hoạt động độc lập, nhưng Borodin – cố vấn Liên Xô cho Quốc Dân Đảng đã có tuyên bố sau:
Đây là thời điểm mà người Cộng sản phải phục tùng Quốc dân Đảng (Nguyên văn: The present period is one in which the Communists should do coolie service for the Kuomintang!). Nguồn: Isaacs, 1938
Quốc tế thứ Ba vẫn dứt khoát khước từ đề xuất hoạt động độc lập của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Để ve vãn Stalin, Tưởng loại bỏ một cách có chủ đích các thành phần cánh hữu trong Quốc Dân đảng, như một sự nhượng bộ. Và sau đó, phía Liên Xô vẫn tiếp tục cùng Tưởng đạt thỏa thuận mới, Liên Xô vẫn sẽ giữ các cố vấn của mình và tiếp tục cung cấp viện trợ cho Quốc dân Đảng. Bên cạnh đó, sẽ cung cấp danh sách Đảng viên và chấp thuận viện các đảng viên Cộng sản sẽ không nằm trong vị trí cấp cao trong chính phủ.
Trước những hành động này, Đảng Cộng sản hoàn toàn bị tê liệt, họ phối hợp thành lập Liên đoàn lao động Toàn Trung Quốc lên tới 2,8 triệu người vào năm 1927. Mục đích của Liên đoàn này là để quy tụ công nhân, dễ quản lý để ủng hộ cho mặt trận Thống nhất với Tưởng. Thậm chí kìm hãm các phong trào đấu tranh của nông dân ở Hồ Nam và Hồ Bắc vì lo sợ phá vỡ mặt trận bình dân với Tưởng.
Nhờ nguồn tài trợ từ Quốc tế Cộng sản của Stalin, Tưởng dựng được một đội quân tinh nhuệ dẫn đầu bởi khoảng 6,000 sĩ quan được đào tạo từ Học viện Quân sự Hoàng Phố. Từ căn cứ địa tại Quảng Châu, ông ta tiến hành chiến dịch giải phóng miền Bắc Trung quốc, lấy danh nghĩa tiêu diệt quân phiệt. Tranh thủ sự ủng hộ và vận động công nông của Đảng Cộng sản, Tưởng nhanh chóng dành được các thành phố lớn như Vũ Hán, Nam Kinh, Thượng Hải. Trong nhiều trường hợp, các cuộc đình công ở các thành phố này làm tê liệt chính quyền quân phiệt, đôi lúc, khiến Tưởng không cần phải tốn mũi tên hòn đạn. Lực lượng quân sự Quốc dân Đảng lớn lên nhanh chóng, công nhân và sinh viên nổi dậy mạnh mẽ còn đám quân phiệt thì sụp như ngả rạ.
Thảm sát Thượng Hải và những cuộc nổi dậy vội vã
Quyền lực của Tưởng được củng cố nhanh chóng sau chiến dịch Bắc Phạt thành công vượt trội, sau đợt thanh trừng cánh tả năm 1925 với việc suy giảm tầm ảnh hưởng Uông Tinh Vệ (Wang Jingwei) – Lãnh đạo phe tả thân Liên Xô và là đối thủ nặng kí nhất của Tưởng trong Quốc Dân Đảng. Là đại diện cho tư sản dân tộc, địa chủ và quân phiệt, Tưởng nhanh chóng hướng mắt tới kẻ thù chính – Những người Cộng sản.
Sự thực là, ngay từ 1925, giai cấp công nhân Trung Quốc đã tiến hành nhiều phong trào phản kháng, ban đầu là chống lại sự áp bức từ tư bản đế quốc, sau là chống lại đàn áp từ quân phiệt. Điển hình là đình công của công nhân Quảng Đông – Hồng Kông, kéo dài một năm rưỡi, làm tê liệt hoàn toàn bộ máy đế quốc. Bất chấp điều này, thay vì tranh thủ dành quyền lực, thì Đảng Cộng sản lại tiếp tục án binh bất động. Tới năm 1926, sự nhu nhược và mất định hướng của các lãnh đạo cộng sản lúc đó đã tiếp tục tạo thời cơ để Tưởng loại bỏ ảnh hưởng của phe cộng sản ra khỏi bộ máy, củng cố quyền lực và tăng cường đàn áp.
Bi kịch nhất trong chuỗi thất bại này, là sự kiện thảm sát Thượng Hải. Tại Thượng Hải, hưởng ứng cuộc hành quân Bắc Phạt của Tưởng – khi này quân Tưởng đã gần thành phố, Tổng liên đoàn lao động kêu gọi tổng đình công vào tháng 2. Vào 19/2, khoảng 350,000 công nhân tham dự tổng đình công. Vào 21-22 tháng Ba, công nhân dẫn dắt bởi Chu Ân Lai và Trần Độc Tú chính thức nổi dậy vũ trang ở Thượng Hải, với 800,000 công nhân tham gia đình công. Công nhân lập đội vũ trang khoảng 5,000 người và thậm chí dành quyền kiểm soát thành phố trừ khu tô giới ngoại quốc, đánh bại lực lượng của quân phiệt, họ thành lập chính phủ lâm thời, hợp tác với chính phủ cánh tả của Quốc dân Đảng do Uông Tinh Vệ đại diện.
Đầu tháng Tư, quân Tưởng vào thành phố mà không có sự kháng cự nào, những người Cộng sản chào đón quân Tưởng như là đồng minh. Tới ngày 9/4, dưới khẩu hiệu “Thanh Đảng – Cứu Quốc”, Tưởng công khai công kích phe cánh tả Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản. Ngày 12/4, Tưởng quyết định thanh trừng cộng sản, tiến hành “Khủng bố Trắng”. Trước sự phản đối từ quần chúng công nhân và người lao động, Tưởng hợp tác với Đỗ Nguyệt Sanh – trùm của Thanh Bang hội. Tên này được vũ trang một đội quân khoảng 3,000 tên lưu manh được Nguyệt Sanh đặt là “Hiệp hội Công nhân Thượng Hải” và “Hiệp hội đồng tiến Trung Hoa”. Lấy danh nghĩa này, Đỗ Nguyệt Sanh xua quân đi tập kích các đội vũ trang tự vệ, hành quyết công nhân, ngay ngày 12/4 đã giết chết 120 người. Tưởng dù xua quân đi dẹp loạn, nhưng lại đàn áp công nhân và lập hành lang an toàn để phe giang hồ có thể rút lui. Quân Tưởng công khai nổ súng bắn vào công nhân và sinh viên biểu tình, tước vũ khí của các đơn vị dân quân. Chỉ trong 20 ngày, 12.000 người cộng sản, công nhân, sinh viên đã bị giết. Cuộc thảm sát đã đàn áp phong trào công nhân trong bể máu. Tới cuối năm 1927, ước tính có khoảng 35,000 đảng viên CS, công nhân, sinh viên đã bị giết. Ngay sau đó, Tưởng giải tán chính phủ lâm thời Thượng Hải, các công đoàn và mọi tổ chức khác do Đảng Cộng sản kiểm soát, và tổ chức lại mạng lưới các công đoàn trung thành với Quốc Dân Đảng.

Tới lúc này, Stalin và Đảng Cộng sản mới vội vã cựa quậy để chống lại. Tháng 5, Stalin ra chỉ thị cho nhóm cố vấn Liên Xô tại TQ, gọi là “Chỉ thị tháng 5” gửi tới Borodin và Roy – Đại diện của Liên Xô tại chính quyền Vũ Hán, kêu gọi xây dựng lực lượng cộng sản khoảng 50,000 người, lập tòa án cách mạng, tiến hành chiếm đất. Chỉ thị này lại loại trừ việc trưng thu đất của cán bộ, binh lính và nhượng bộ cho thợ, thương nhân và tiểu địa chủ vì e sợ các thành phần này sẽ ngả về phe phản cách mạng. Chỉ thị này đã không tạo ra được hiệu quả chính trị, mà trái lại, còn thúc đẩy sự đàn áp của chính phủ dân quốc tới Cộng sản vì cố vấn Soviet – M. N. Roy đã quyết định đưa nó cho Uông Tinh Vệ – Đại diện Quốc dân Đảng vì muốn giữ liên minh với phe cánh tả của Quốc Dân Đảng ở Vũ Hán!
Tháng 8, 20,000 công nhân và binh lính nổi dậy tại Nam Xương dẫn đầu bởi Đảng Cộng sản trong đó có Chu Ân Lai, cuộc nổi dậy nhanh chóng thất bại sau vài ngày, và phe cộng sản gặp tổn thất nặng, chỉ còn lại khoảng 1,000 lính chạy hội quân với Mao. Tháng 12, 20,000 công nhân và binh lính tiếp tục tiến hành nổi dậy tại Quảng Châu. Cuộc nổi dậy đã bị dìm trong bể máu với tổn thất gần 6,000 người. Tháng 9, chống lại chính sách Khủng Bố trắng của Tưởng, Mao cũng dẫn dắt 1 cuộc nổi dậy bởi nông dân, gọi là Khởi nghĩa vụ mùa Thu, khởi nghĩa cũng thất bại dẫn tới gần 400,000 người dân Hồ Nan bị thảm sát. Mao buộc phải rút vào vùng núi Tĩnh Cương, hội quân với Chu Ân Lai.

Những bài học trả bằng xương máu
Sau thảm sát Thượng Hải, “Chỉ thị tháng 5” của Stalin tiếp tục tạo cớ để phe cánh tả Quốc Dân đảng trục xuất phái Cộng sản ra khỏi chính quyền Vũ Hán vào tháng 7 vì không muốn bị Tưởng nghi ngờ và lo sợ phe Cộng sản xây dựng lực lượng riêng. Lực lượng giai cấp công nhân ở các thành phố lớn hoàn toàn bị tê liệt, không thể vực dậy. Từ 50,000 – 60,000 đảng viên phát triển trong các phong trào công nhân 1927, Đảng Cộng sản chỉ còn 10,000 thành viên. Về mặt chính trị, phe ủng hộ cách mạng công nhân, lấy công nhân làm nòng cốt cho thành phần lãnh đạo cách mạng dẫn đầu bởi Trần Độc Tú đã mất hoàn toàn tín nhiệm, Trần Độc Tú bị miễn nhiệm. Để tồn tại, bộ phận chỉ huy của Đảng Cộng sản buộc phải đào thoát vào các khu vực nông thôn, vùng núi, lấy nông dân làm nòng cốt và tổ chức chiến tranh du kích – mở ra tiền đề cho sự trỗi dậy và lãnh đạo của Mao trong Đảng cộng sản – một người có nhiều kinh nghiệm làm việc với nông dân.
Quốc Dân Đảng dốc toàn lực tận diệt cộng sản nhưng không thành công, nội chiến Quốc – Cộng kéo dài cho tới sự biến Tây An năm 1937 – Khi nội bộ Tưởng Giới Thạch tiến hành binh biến, ép buộc Tưởng hòa đàm cùng phe Cộng sản để cùng hợp tác chống Nhật.
Về góc độ khách quan, có nhiều lý do dẫn tới sự thất bại của phe Cộng sản: Sự khiêm tốn của giai cấp công nhân ở Trung Quốc – khi ấy chỉ có khoảng 2 triệu công nhân công nghiệp trong nhà máy cùng với khoảng đầu đó 10 triệu lao động tự do. Sự sơ khởi của phong trào công nhân, ảnh hưởng từ chủ nghĩa dân tộc. Và đặc biệt phải kể tới chính sách cơ hội của phe Stalin – khi liên tục bơm nguồn lực cho phe Quốc Dân Đảng, đưa ra những chỉ thị bất lợi, thiếu đồng nhất, thậm chí gây hại cho phong trào. Quốc tế Cộng sản bị thao túng bởi Stalin và đám quan liêu trong hàng ngũ quan lại Liên Xô lúc đó đã hoàn toàn thất bại trong vai trò lan tỏa các ý tưởng, kiến thức và kinh nghiệm cách mạng chính thống ra bên ngoài. Nếu có một Quốc tế Cộng sản mạnh mẽ, với nguồn lực về lý thuyết, về kinh nghiệm, hỗ trợ vô sản quốc tế, tình trạng sơ sinh trong tư duy và hiểu biết của những người cộng sản Trung Quốc đầu tiên sẽ qua rất nhanh, thực tế sẽ khác xa.
Về góc độ chủ quan, sự thất bại của những người Cộng sản Trung Quốc tới từ các lý do chính: Sự thiếu hụt trọng tâm lý thuyết trong phong trào, đặc biệt là thành phần lãnh đạo cách mạng. Nhìn vào sự phát triển của Chủ nghĩa Marx tại Trung Quốc, dễ thấy rằng, chủ nghĩa Marx tới Trung Quốc trong giai đoạn thoái trào của cách mạng, với sự suy thoái của nhà nước công nhân Liên Xô trở thành một nhà nước quan liêu, sự thất bại của cách mạng Đức, cùng sự thất bại của các phái cách mạng triệt để trước các phe cơ hội, cải cách tại các đế quốc tư bản như Pháp – Anh. Điều này tạo điều kiện cho các lý thuyết bóp méo về chủ nghĩa Marx được sinh sôi nảy nở, điển hình là sự quay trở lại của tư tưởng Menshevik với lý thuyết hai giai đoạn trong nội bộ Liên Xô sau cái chết của Lenin.
Sự thiếu hụt về mặt lý thuyết dẫn tới hai hệ quả. (1) Đội ngũ lãnh đạo không đủ khả năng phân tích, nắm bắt tình hình để tận dụng thời cơ – Một điều đã thể hiện rõ trong cách mạng 1925 – 1927, khi các lãnh đạo cao cấp nhất của phong trào, kể cả Trần Độc Tú đều bị động và lúng túng, tới cùng vẫn tin tưởng vào hợp tác với phe cánh tả của Quốc dân Đảng, lại không biết cách tận dụng sức mạnh quần chúng tại Quảng Châu, Hong Kong, Nam Kinh để leo thang phong trào. Mặt khác, chính họ – những người đồng minh thân cận nhất của người công nhân, lại tước đi của người công nhân công cụ phản kháng và giành quyền lực, tạo dung môi hoàn hảo cho sự đàn áp từ quân phiệt Tưởng Giới Thạch. Lãnh đạo phong trào Cộng sản Trung Quốc hoàn toàn tê liệt, hoang mang và mất định hướng trước các diễn biến vận động của phong trào – hoàn toàn không có khả năng lãnh đạo cách mạng. Sai lầm này sẽ được lặp lại bởi vô số các nhà lãnh đạo Stalinist khác ở khắp châu Á tại Indonesia, Singapore, Malaysia… gây ra các thảm kịch với kịch bản lặp lại y hệt, với kết quả chung cuộc là những người cộng sản bị giải giáp, đế quốc/phản cách mạng trở mặt và truy cùng diệt tận.
Và (2) chủ nghĩa kinh nghiệm: Chính bởi thiếu hụt nền tảng lý thuyết khoa học, phong trào đi vào tình trạng “ném đá dò đường”, đi tới đâu học tới đó. Đây chính là nền tảng cho chủ nghĩa kinh nghiệm – mảnh đất màu mỡ cho sự sinh sôi của chủ nghĩa cơ hội về sau này, dẫn tới sự xa rời và chệch hướng khỏi chủ nghĩa Marx. Điều này sẽ được minh chứng rõ rệt với sự trỗi dậy của Mao, cùng với đó, là các lý thuyết bóp méo của Mao về duy vật biện chứng, và sự xoay chuyển về trọng tâm – lấy tầng lớp nông dân làm hạt nhân cách mạng. Sự phát triển của Mao, đỉnh cao là chiến thắng của Đảng Cộng sản trong nội chiến Quốc – Cộng 1949 một mặt là dấu ấn vô sản trong lịch sử Trung Quốc, nhưng mặt khác chính nền tảng lý thuyết “lưỡi không xương trăm đường lắt léo” này đây chính là tiền đề để đẳng cấp quan liêu lãnh đạo Trung Quốc đề ra “chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc” mở cửa cho chủ nghĩa tư bản quay trở lại Trung Quốc sau này.
Điều này khác biệt hoàn toàn với cách mạng Nga, khi ngay từ đầu Lenin cực kì nghiêm túc trong vấn đề đào tạo lý thuyết cho các Đảng viên Bolshevik, quyết không nhân nhượng với các tư tưởng cơ hội của Mensheviks mà quyết tâm xây dựng một phong trào vững mạnh dựa trên các cán bộ được đào tạo kĩ lưỡng, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn bối cảnh phức tạp của xã hội Nga và những biến động xã hội thời thế chiến I. Các đảng viên Bolshevik đóng vai trò là người truyền bá tư tưởng, tư duy, chiến lược và chiến thuật cách mạng để lôi cuốn quần chúng công nhân. Sự kiên định của Đảng Bolshevik trên nền tảng lý thuyết vững chãi đã là yếu tố chủ quan, chủ đạo dẫn tới sự thành công của Cách mạng tháng Mười.
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không có được điều này, bởi tự chính bản thân họ, nhưng cũng bởi nhiều nguyên do khách quan kể trên. Chính bởi ở một quốc gia mới chỉ mở cửa được với các tư tưởng phương Tây được đâu đó 14 năm – chưa đầy hai thập kỉ, lại ở trong tình trạng yếu kém và bị cô lập, không nhận được sự ủng hộ xứng đáng từ quốc tế, Trung Quốc khó lòng tạo ra một lớp lãnh đạo cách mạng mãnh mẽ, được đào tạo chuẩn chỉnh về chủ nghĩa Marx một cách bài bản, quyết tâm và quyết liệt thực hiện mục tiêu cách mạng.
Sự thực là dù giai cấp công nhân Trung Quốc còn khiêm tốn, với chính sách giữ độc lập lập trường giai cấp vô sản kết hợp liên minh với các giai tầng khác – đặc biệt là lao động tự do và nông dân, giai cấp công nhân – như cách Lenin và Trostky đã thực hiện trong cách mạng Nga, giai cấp công nhân Trung Quốc vẫn hoàn toàn có khả năng nắm quyền nhờ khả năng lôi cuốn các tầng lớp này thông qua một chương trình chuyển tiếp đảm bảo quyền lợi của chung các giai tầng bị áp bức nếu cách mạng vô sản thành công.
Bài học của Cách mạng Trung Quốc – một cuộc cách mạng lạc lối của những người cộng sản lạc lối, trong một bối cảnh lạc lối của phong trào Cộng sản, dù bi tráng và đáng buồn, nhưng cũng sẽ là một bài học cần thiết cho lịch sử cuộc cách mạng. Người cộng sản là người kiên định trong con đường học tập, đào sâu tới tận gốc rễ của câu hỏi vì sao, tìm câu trả lời dựa trên phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phân tích thực tiễn sự vận động của lịch sử và xã hội, để từ đó phân tích tình hình thực tiễn, tìm ra câu trả lời. Đảng Cộng sản phải là một đảng có những thành phần cấp tiến nhất, độc lập về đường lối hoạt động trên lập trường của giai cấp vô sản, nắm vững lý thuyết và khả năng áp dụng lý thuyết vào thực tiễn cách mạng. Phong trào Cộng sản phải là một phong trào toàn cầu, hỗ trợ và đoàn kết tối đa cho sự phát triển của các đồng chí trên toàn địa cầu dựa trên mục tiêu cách mạng vô sản không suy chuyển.
Thế kỉ XXI đã mở ra với nhưng cơn lốc chính trị đang cuộn trào trên nền móng đang lung lay của thế giới tư bản. Cách mạng chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng chỉ khi nắm vững được những bài học đầy đau đớn từ quá khứ, những người con cách mạng mới trả lời được cho câu hỏi về sự thành hình của cách mạng.
Vô sản thế giới đoàn kết lại!
Tài liệu tham khảo:
- The 1925-27 Chinese Revolution and the Role of Stalinism: https://communist.red/the-1925-27-chinese-revolution-and-the-role-of-stalinism
- The Chinese Communist Party 1927-37: The Development of Maoism: https://marxist.com/chinese-comminist-party-1927-37-part-1.htm
- Report on The Activities of the Executive Committee of the Communist International: https://www.marxists.org/history/international/comintern/1926/ecci-1926.pdf?
- The Tragedy of the Chinese Revolution: https://www.marxists.org/history/etol/writers/isaacs/1938/tcr/ch05.htm#fw36
- A History of the Modern Chinese Revolution: https://www.marxists.org/subject/china/documents/books/ho-kan-chih-1977-ocr.pdf?
- China: From Revolution to Tiananmen: https://marxist.com/china-from-revolution-to-tiananmen.htm
