‘Ngừng việc tập thể’ – Công nhân Việt Nam không có quyền đình công!

Hình ảnh của một cán bộ công đoàn đang ra sức thuyết phục công nhân ngừng đình công (nguồn: Báo Thanh Hoá)

Tác giả

Chỉ có các công đoàn phản động, và Đảng Cộng sản Việt Nam là có quyền đình công!

Trong những khoảng thời gian gần đây, trên các trang báo chí chính thống Việt Nam, nổi dần lên một hiện tượng ngôn ngữ, một kiểu nghệ thuật viết lách mới. Mặc dù có thể không có quá nhiều hiểu biết về nghệ thuật tu từ trong tiếng Việt, trước cái hiện tượng thú vị đó, người ta không khỏi ‘trầm trồ thán phục’ về tài năng phi thường của các cây bút hàng đầu trong ngành báo chí ‘xã hội chủ nghĩa’ ở Việt Nam. Những ‘phù thủy ngôn ngữ’ này bắt đầu sử dụng cụm từ ‘ngừng việc tập thể’ để miêu tả các vụ việc đình công!

Tình trạng ‘ngừng việc tập thể’ của công nhân Việt Nam

Ngay từ đầu năm 2025, tại thành phố Hồ Chí Minh, theo thông tin của báo chí chính thống trong nước, tổng cộng 400 công nhân, người lao động tại đơn vị đã ‘tập trung tại chỗ làm nhưng không làm việc’ bởi vì chưa được nhận lương, thưởng trước ngày làm việc chính thức cuối của năm trước [1]. Tại Cà Mau, ngay ngày 01/01/2025, 100 nhân viên lái xe của Công ty Cổ phần Bảo Gia Cà Mau ngừng việc phản đối vấn đề Công ty không giảm mốc doanh thu đem về của tài xế, dẫn đến lái xe chạy không đạt doanh thu và phải nhận lương thấp [2]. Ngày 21/01/2025, 251 công nhân tại Công ty TNHH May Minh Hoàng 2, tỉnh Quảng Nam cũng ‘cùng nhau ngừng việc’ do Công ty thông báo thưởng Tết sau Tết và chậm đóng bảo hiểm xã hội dai dẳng suốt 33 tháng [3]. Theo báo cáo của Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hóa, từ ngày 1/3/2025 đến 7/3/2025, toàn tỉnh đã có 32.898 công nhân thuộc 10 công ty ‘ngừng việc tập thể’ [4].

Những vụ ‘ngừng việc’ này đã mở ra các cuộc tranh luận xoay quanh vấn đề về quyền đình công của công nhân Việt Nam. Nhiều quan điểm cho rằng các vụ việc này, trên thực tế phải được xem xét là các vụ đình công. Ở phía ngược lại, báo chí chính thức trong nước gọi các quan điểm này là ‘bịa đặt’ và ‘xuyên tạc’. Ngày 07/03/2025, trên Báo Thanh Hóa – Cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tại Thanh Hóa (Baothanhhoa.vn) có đăng tải bài viết Cảnh giác với thông tin xấu, độc, sai sự thật về vụ việc công nhân ngừng việc tập thể, trong đó có viết:

lợi dụng tình hình công nhân của nhiều công ty ngừng việc, các thế lực thù địch, phản động, các đối tượng bất mãn chính trị trong nước và nước ngoài đã lợi dụng phát tán trên không gian mạng nhiều thông tin sai sự thật như: Biểu tình ở Thanh Hoá, công nhân đình công đòi quyền lợi để kích động công nhân đình công, ngừng việc…

Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rất rõ ràng quan điểm cho rằng việc công nhân tập hợp với nhau, ngừng việc tự nguyện, tự giác để đòi quyền lợi đơn thuần chỉ là ‘ngừng việc tập thể’.

Câu hỏi đặt ra là: các vụ việc được nêu ra ở phần trên nên được xem xét là ‘ngừng việc tập thể’ hay là đình công? Để trả lời câu hỏi đó, bài viết này sẽ cung cấp thông tin về hiện tượng ‘chơi chữ’ này dưới góc nhìn đấu tranh giai cấp.

‘Đình công’ theo pháp luật Việt Nam

Cần phải nói rằng bài viết này không có mục đích phân tích câu chữ để giải quyết vấn đề, tuy nhiên, để chỉ ra cho rõ ngọn ngành được những hành động đấu tranh cụ thể và trực tiếp của công nhân trong những tháng vừa qua là ‘đình công’ hay ‘ngừng việc’, buộc phải đi vào phân tích chi tiết những nội hàm của khái niệm này.

Nguyên văn quy định về đình công của nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 198 của Bộ luật Lao động năm 2019 như sau:

“Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của người lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động và do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo.”

Có thể thấy, đình công, theo định nghĩa của tầng lớp cầm quyền ở Việt Nam, bao hàm trong đó là sự ngừng việc tập thể một cách có tổ chức của người lao động. Tuy nhiên, điều kiện đủ để sự ngừng việc tập thể một cách có tổ chức của người lao động trở thành đình công thì phải “do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo”.

Ở góc độ khác, trong bài Về đình công năm 1899, quan điểm của Lênin về vấn đề đình công như sau:

“… các cuộc đình công, phát sinh từ chính bản chất của xã hội tư bản, báo hiệu sự khởi đầu của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại hệ thống xã hội đó… Miễn là những người lao động phải đối phó với những nhà tư bản trên cơ sở cá nhân, họ vẫn là nhng nô lệ thực sự, những người phải làm việc liên tục để kiếm lợi nhuận cho người khác để kiếm được một miếng bánh mì, những người phải mãi mãi là những người hầu được thuê ngoan ngoãn và không biết nói. Nhưng khi những người lao động cùng nhau nêu ra những yêu sách của họ và từ chối khuất phục trước những túi tiền, họ không còn là nô lệ nữa, họ trở thành con người, họ bắt đầu đòi hỏi rằng lao động của họ không chỉ phục vụ cho việc làm giàu cho một số ít những kẻ lười biếng, mà còn phải giúp những người lao động có thể sống như con người.” 

Về bản chất, các cuộc đình công là biểu hiện của đấu tranh giai cấp, xuất phát từ chính những mâu thuẫn nội tại của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Về hình thức, đình công là khi “những người lao động cùng nhau nêu ra những yêu sách của họ và… bắt đầu đòi hỏi rằng lao động của họ không chỉ phục vụ cho việc làm giàu cho một số ít những kẻ lười biếng, mà còn phải giúp những người lao động có thể sống như con người”.

Đình công, đúng ra, phải được xem xét là một hình thức đấu tranh kinh tế, khi lợi ích của những người công nhân bị hạ thấp đến mức họ không thể chịu đựng được nữa, không thể nuôi sống chính mình và gia đình. Bên cạnh đó, do nếu đứng một cách riêng rẽ, từng người công nhân đều yếu thế hơn nếu so với một nhà tư bản, nên họ buộc phải tổ chức, liên kết lại với nhau. Thông qua đấu tranh chính trị, người công nhân đứng trước cơ hội thuận lợi để giành lấy về giai cấp mình toàn bộ tư liệu sản xuất và đứng lên nắm quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính vô sản.

Tuy nhiên, đình công theo pháp luật đặc biệt ở chỗ là phải “do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể” tổ chức và lãnh đạo. Vậy tổ chức đại diện người lao động như thế nào mới là ‘có quyền’?

Hệ thống công đoàn quan liêu và phản động

Điều 3 Bộ luật Lao động của Việt Nam năm 2019 có giải thích về tổ chức đại diện người lao động cơ sở như sau:

“Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.

Như vậy, tổ chức đại diện người lao động ở đây (theo luật Việt Nam) có thể hiểu là bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Về mặt lý thuyết, tổ chức người lao động tại doanh nghiệp có thể được thành lập tự nguyện, nằm ngoài hệ thống công đoàn của Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Tuy nhiên, trên thực tế, ở Việt Nam, ngay cả Đảng Cộng sản Việt Nam cũng thừa nhận “chưa có tiền lệ về hệ thống tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp tồn tại song song với Công đoàn Việt Nam” [5].

Về mặt tổ chức, hệ thống công đoàn được tổ chức theo cấp hành chính, đứng đầu là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Theo Khoản 2 Điều 6 Luật Công đoàn năm 2012, “công đoàn được tổ chức và hoạt động theo Điều lệ Công đoàn Việt Nam, phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước”.

Công đoàn, thay vì sinh ra lợi ích của giai cấp công nhân, thì ở Việt Nam, nó là một phần của thể chế, chủ yếu thực hiện chức năng ‘thỏa hiệp’. Các công đoàn này bao gồm đội ngũ đông đảo ‘lãnh đạo công đoàn’, tuyệt đối ‘trung thành’ với Đảng Cộng sản Việt Nam. Thay vì được bầu cử bởi công nhân là thành viên công đoàn, những ‘cán bộ’ này đa phần được chọn lựa bởi giới lãnh đạo dựa trên tinh thần ‘biết vâng lời’ và có khả năng ‘vỗ về’ tập thể công nhân. Chính vì vậy, công đoàn ở Việt Nam mang tính chất phi dân chủ, quan liêu. Kết quả là việc những lãnh đạo, công đoàn trên danh nghĩa này không đứng về phía lợi ích của công nhân là điều tất yếu.

Về mặt hình thức, hệ thống công đoàn không ‘trấn áp’ công nhân thông qua vũ lực, mà thông qua các chính sách thỏa hiệp với giới cầm quyền. Điều này nguy hiểm ở chỗ, nó tạo cho những công nhân nhẹ dạ tin rằng các công đoàn này thực sự thuộc về người lao động.

Công đoàn bị phụ thuộc và chịu sự điều hành, lãnh đạo chặt chẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi lẽ, theo pháp luật Việt Nam, ngừng việc chỉ có thể được coi là đình công khi nó được tổ chức, lãnh đạo bởi một ‘tổ chức đại diện có quyền’ tại nơi làm việc. ‘Tổ chức có quyền’ này là công đoàn, và công đoàn này chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ở Việt Nam, đình công nếu không có sự tổ chức, lãnh đạo bởi công đoàn thì sẽ trở thành bất hợp pháp. Từ sau thời kỳ Đổi mới năm 1986, cho tới năm 2017, có khoảng 6500 vụ đình công diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam và “không có một cuộc đình công nào là hợp pháp” [6]. Những con số thống kê này cho thấy mức độ bị đàn áp khủng khiếp công nhân Việt Nam đã phải gánh chịu. Những quyền lợi cơ bản nhất của người lao động mà ngay cả ở những quốc gia tư bản còn có được, thì ở một quốc gia ‘xã hội chủ nghĩa’ các quyền này lại chỉ nằm vỏn vẹn trên văn bản.

Các điều khoản quy định về đình công trong pháp luật Việt Nam là vô dụng đối với giai cấp công nhân, chúng chỉ có tác dụng trong việc bảo vệ giới chủ và tầng lớp lãnh đạo quốc gia. Sự thực này được thể hiện qua việc các cuộc đình công đều là bất hợp pháp và thường phần thắng không dành cho công nhân, họ chỉ nhận được các khoản ‘bố thí’ từ bọn bóc lột. Để che đậy cho sự phản bội giai cấp vô sản của thể chế quan liêu và hệ thống pháp luật của nó, các cơ quan báo chí của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tích cực sử dụng cụm từ ‘ngừng việc tập thể’, mục đích để tạo ra ít các cuộc ‘đình công bất hợp pháp ‘ hơn.

Điều ấy, vô hình chung, đã gây ra các hậu quả nặng nề về mặt văn hóa-tư tưởng đối với phong trào công nhân tại các nhà máy trong nước. Kỳ thực cứ với tần suất ‘chơi chữ’ cao như vậy, thế hệ công nhân mới có khả năng không còn biết đình công là gì. Mà không biết đình công là gì thì cũng không có phong trào đình công. Giới chủ và nhà nước phản động, sau cùng, là được lợi hơn cả.

Sự phản động của Đảng Cộng sản Việt Nam

Do đình công là tranh chấp giữa công nhân trong nhà máy đối với giới chủ, giữa người làm thuê và kẻ bóc lột, việc hệ thống công đoàn và các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam ‘ngăn chặn’ các cuộc đình công cả về mặt chính trị lẫn văn hóa cho thấy rằng Đảng này hoàn toàn quay lưng đối với giai cấp công nhân cũng như chuyên chính vô sản. Thay vì bảo vệ lợi ích của người công nhân, thể chế Cộng sản quan liêu, bao gồm các công đoàn – là cánh tay nối dài của Đảng đã và đang bảo vệ chủ tư bản.

Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với nhà nước chịu sự ‘lãnh đạo toàn diện’ của nó là một chính thể nhà nước theo chủ nghĩa Bonaparte*. Khi mà sự đối kháng giữa hai giai cấp, giữa một bên là vô sản trong nước chưa được liên kết và tổ chức bài bản, và bên còn lại là giai cấp tư sản quốc gia vẫn còn quá yếu để cạnh tranh, hai giai cấp đối kháng đang ở thế cân bằng; một bộ phân quan liêu có cơ hội trỗi dậy, “đứng lên trên xã hội, và ngày càng ra xời xã hội”. Sau thời kỳ Đổi mới năm 1986 cho đến nay, sự thống trị của nhà nước thể hiện rất rõ qua tàn dư của những ‘đỉnh cao của kinh tế chỉ huy quan liêu’ thông qua các doanh nghiệp nhà nước độc quyền với số vốn khổng lồ, làm ăn thua lỗ [7] và các loại tài sản thuộc ‘sở hữu toàn dân’ khác.

Về mặt kinh tế-chính trị, quyền đình công, thứ vốn cho phép giai cấp có khả năng đấu tranh về mặt kinh tế đã bị tước đoạt trắng trợn. Có thể nói, tầng lớp quan liêu hoàn toàn nhận thức được khả năng biến đấu tranh kinh tế thành đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam, chúng đã rút ra được những bài học mà các cuộc cách mạng vô sản tiến bộ trên thế giới đã thể hiện. Do đó, tầng lớp cầm quyền lại càng ráo riết siết chặt sự kiểm soát.

Bên cạnh đó, bằng cách liên tục ‘tuyên giáo’ về chủ nghĩa dân tộc, tầng lớp quan liêu cho thấy nỗ lực tuyệt vọng trong việc cô lập giai cấp công nhân trong nước khỏi phong trào vô sản thế giới. Bằng học thuyết ‘chủ nghĩa xã hội trong một nước’ của Stalin và ‘Tư tưởng Hồ Chí Minh’ về vấn đề dân tộc, các cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam ra sức kêu gọi tinh thần ‘công nhân ái quốc’, cho rằng công nhân nên ‘hi sinh sức lao động của mình cho lũ tư bản bóc lột’ vì sự nghiệp vĩ đại của dân tộc. Những tư tưởng ấy kỳ thực đều là lừa đảo và phi xã hội chủ nghĩa.

Chủ nghĩa cộng sản chân chính phải là chủ nghĩa quốc tế. Ngay trong Tuyên ngôn của Quốc tế Cộng sản, Karl Marx đã nỗ lực thành lập một tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân, nhấn mạnh phong trào cộng sản là phong trào mang tính chất quốc tế, xuất phát từ thực tế rằng chủ nghĩa tư bản là một hệ thống toàn cầu. Tuy nhiên, sự quay lưng lại với cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tàn phá nghiêm trọng những thành tựu cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam, phá vỡ tinh thần đoàn kết vô sản quốc tế. Bọn quan liêu liên tục bám víu vào và xuyên tạc chủ nghĩa Marx chính thống để ra sức lợi dụng giai cấp công nhân phục vụ cho hệ thống thối nát của mình.

Tuy nhiên, chúng không thể thành công che đậy bản chất đó. Bởi lẽ, giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng không thể tách rời khỏi giai cấp công nhân thế giới, các nhà máy FDI đã mọc lên như nấm, việc sản xuất đã được xã hội hóa đến mức độ toàn cầu. Về mặt lực lượng, giai cấp công nhân Việt Nam đang có những sự phát triển tích cực cả về số lượng lẫn trình độ lao động. Theo số liệu năm 2023, Việt Nam là một trong 23 nước có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới [8]. Giai cấp công nhân Việt Nam hiện tại đã đến gần với giai cấp công nhân thế giới hơn bao giờ hết trong suốt quá trình ra đời và hình thành. Quá trình xã hội hóa sản xuất (theo nghĩa hiểu duy vật lịch sử, không phải theo nghĩa ‘cổ phần hóa’) đã làm cho giai cấp công nhân Việt Nam không thể tách rời khỏi quan hệ sản xuất toàn cầu. Trong các tập đoàn độc quyền mạnh nhất thế giới, đã có sự xuất hiện bàn tay lao động của công nhân Việt Nam, có thể kể đến trong các ngành điện tử, ngành thép, dệt may, nông sản … Quan trọng hơn, những bước phát triển này không nằm ở sự tiến bộ trong vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà thực chất lại nằm ở ‘sự nhượng bộ’ của đảng này.

Bước nhượng bộ

Quay trở lại lịch sử với vấn đề luật đình công và vai trò của các ‘tổ chức có quyền’, tại Bộ luật lao động năm 2012, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận công đoàn cơ sở là tổ chức đại diện chính thức và duy nhất của người lao động. Người lao động dù muốn hay không, họ không có sự lựa chọn trong việc thành lập, gia nhập tổ chức đại diện người lao động vì chỉ có duy nhất một tổ chức đại diện chính là công đoàn.

Cho tới Bộ luật Lao động năm 2019, tầng lớp cầm quyền bắt đầu “cho phép người lao động trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp… khẳng định cả công đoàn và các tổ chức đại diện người lao động khác tại doanh nghiệp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động” [9] .

Theo lời tung hô của các ‘trí thức quan liêu’ Việt Nam, đây là thành tựu của các chính sách ngoại giao khôn ngoan với các ‘cường quốc’ trên thế giới và ‘hội nhập quốc tế sâu rộng’. Một số kẻ còn mù quáng mà ca tụng rằng: do nhận thấy tình hình giai cấp công nhân Việt Nam đã có những cải thiện rõ rệt trong thời kỳ đổi mới của đất nước, Đảng Cộng sản đã hoàn thành ‘sứ mệnh dẫn dắt’  trong những giai đoạn khó khăn, và đến nay, khi người công nhân đã ‘tự đứng trên đôi chân’ của mình thì mới trao quyền cho họ. Sự thật chắc chắn không phải như vậy, việc sửa đổi quy định có hơi hướng ‘cởi trói trên danh nghĩa’ cho các ‘tổ chức người lao động tự do’ trong doanh nghiệp, thực chất đã cho thấy bước nhượng bộ của giới quan liêu cầm quyền.

Do phải hội nhập kinh tế quốc tế, nhà nước Việt Nam đã đàm phán và gia nhập nhiều Hiệp định tự do thương mại thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Tiến bộ và Toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Liên minh châu Âu – Việt Nam (EVFTA)… Và những thỏa thuận thương mại này buộc các bên ký kết phải trao trả quyền tự do thành lập các tổ chức đại diện người lao động.

Theo Công ước số 87 năm 1948 của ILO**  về tự do liên kết và bảo vệ quyền tổ chức, mọi người lao động được tự do thành lập và gia nhập Công đoàn theo sự lựa chọn của chính mình mà không phải xin phép trước. Cùng với đó, người lao động phải có quyền tự chủ, tự quản của tổ chức công đoàn trong việc quyết định những vấn đề nội bộ của mình như ban hành điều lệ và các quy định quản lý nội bộ khác, bầu người đại diện, xây dựng và thực hiện kế hoạch công tác; quyền tự do của các tổ chức công đoàn trong việc thành lập và gia nhập các tổ chức của người lao động ở cấp cao hơn, theo ngành nghề, vùng miền, cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Các tổ chức của người lao động ở cấp cao hơn này cũng có các quyền và được bảo vệ như đối với tổ chức công đoàn tại cơ sở; các tổ chức của người lao động nêu trên không thể bị giải thể hoặc đình chỉ hoạt động bởi các cơ quan hành chính của Chính phủ [10]. 

Như vậy, việc mở rộng quyền tự do cho người lao động không phải đến từ ‘đảng của giai cấp công nhân’ trong nước, mà thực chất đến từ tư bản nước ngoài. Thực tế là trước năm 1986, việc bóc lột giai cấp công nhân trong nước của tầng lớp quan liêu đã đi quá giới hạn. Kinh tế trì trệ, những người vô sản chẳng còn gì trong tay nữa để mà bị tước đoạt. Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã cho thi hành chính sách Đổi mới, kêu gọi các nhà tư bản nước ngoài đổ vốn tư bản vào để bóc lột giai cấp. 

Thay vì lao động như một nghĩa vụ pháp lý trong thời thời kỳ quan liêu bao cấp, thì sau ‘Đổi mới’, công nhân Việt Nam lại phải lao động như một ‘nghĩa vụ tín dụng’. Giai cấp vô sản Việt Nam đã rơi vào cảnh ‘một cổ hai tròng’ suốt mấy chục năm nay. Cho tới thời điểm hiện tại, sự đàn áp này ngày càng gia tăng và trở nên khủng khiếp hơn bao giờ hết.

**Tổ chức Lao động quốc tế, tổ chức này đại diện cho nền dân chủ tư sản và không thực sự có một phong trào công nhân nào hoạt động bên trong.

Tự do công đoàn

Trước tình thế tầng lớp quan liêu đang đến gần hơn với giai cấp tư sản trong nước cũng như quốc tế, thông qua ‘kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa’, phong trào ‘tự do dân chủ tư sản/ tiểu sư sản’ cũng quay trở lại mạnh mẽ hơn vào Việt Nam. Các ‘trí thức tư sản’ hết sức ủng hộ việc thành lập các công đoàn theo chủ nghĩa ‘tự do dân chủ tư sản’ của người lao động [11]. Họ cho rằng, sức mạnh của ‘xã hội dân sự’ phát triển sẽ làm cho các công đoàn trở nên tự do hơn, do người lao động sẽ có quyền ‘bình đẳng’ thỏa thuận khi đặt lên ‘bàn cân’ với chủ lao động thông qua các thỏa ước lao động tập thể, thương lượng tập thể.

Nhưng sự thật đã chứng minh rằng điều ấy là không tưởng. Trong điều kiện thông thường của nền sản xuất tư bản, người lao động được pháp luật cho là có quyền ‘tự nguyện’ ký kết một hợp đồng lao động, trong đó họ hoàn toàn bình đẳng với người chủ lao động trong thỏa thuận tiền lương, thời giờ, cường độ lao động. Tuy nhiên, xuất phát từ mâu thuẫn nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, người lao động luôn bị tước đoạt một phần sức lao động vào tay của nhà tư bản.

Trong trường hợp đình trệ, khủng hoảng xảy ra, do áp lực phải cạnh tranh, các doanh nghiệp cố gắng tìm cách cắt lương của người lao động xuống mức tối thiểu, đẩy mọi gánh nặng lên vai của những người làm công ăn lương. Tại thời điểm này, những người bóc lột phải liên kết với nhau, đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi, bởi vì nếu đấu tranh một cách riêng lẻ, cá nhân người lao động sẽ phải đối mặt với hình thức kỷ luật sa thải một cách không thương tiếc, và chủ lao động sẵn sàng thay người này bằng một người đang thất nghiệp khác với mới một mức giá còn rẻ rúng hơn nhiều. Điều đó đã chỉ rõ ra rằng không có hợp đồng lao động nào giữa người lao động làm thuê và chủ tư bản là ‘bình đẳng’ cả. Sự ‘bình đẳng’ đó là giả dối, và chính các cuộc đình công là sự vận động sang một hình thái mới của mâu thuẫn giai cấp sẵn có trong xã hội, làm bộc lộ rõ ràng hơn sự bất công và đàn áp.

Nguyên nhân sâu xa của đình công chính là mâu thuẫn trong lòng xã hội với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Việc tự do công đoàn nhưng theo hướng dân chủ tư sản là không đủ để giải quyết các cuộc đình công, vì đơn giản là nó không thể xóa bỏ được nền sản xuất tư bản và quyền tư hữu về tư liệu lao động.

Bên cạnh đó, như đã nhắc tới phía trên, người lao động khi đứng riêng rẽ thì không thể có đủ sức mạnh để đứng ‘ngang hàng’ với chủ tư bản. Chỉ khi người công nhân liên kết lại với nhau thành khối thống nhất, sức mạnh của họ mới vượt xa được tất thảy cả giai cấp tư bản. Câu hỏi đặt ra là, công nhân làm sao mà liên kết khi họ tham gia vào các ‘công đoàn tự do (chia rẽ[?]) trong xã hội dân sự’? Điều ấy cơ bản là không thể.

Như vậy, với tư tưởng dân chủ tư sản phi cách mạng và hệ thống lý luận về mặt tổ chức đầy tính chia rẽ, hỗn loạn dựa trên phương pháp luận lỗi thời của mình, chủ nghĩa tự do và các nhà ‘trí thức tiểu tư sản’ đã cho thấy rằng chúng không thể đóng vai trò tiến bộ nào và kỳ thực chẳng đoái hoài gì đến quyền lợi của giai cấp công nhân cả.

Giới hạn của đình công và các công đoàn

Nếu so sánh với các nước tư bản tiến bộ, với lực lượng lao động phát triển mạnh mẽ và có điều kiện được tham gia chính trị nhiều hơn, hoạt động công đoàn và đình công ở Việt Nam vẫn còn chưa phát triển bằng, công nhân Việt Nam bị đàn áp một cách thậm tệ và bị tước đoạt các quyền lợi lao động cơ bản. Trước tình hình đó, một số nhà lý luận quan liêu hữu khuynh thế hệ mới lại viện ra lý do rằng: dù gì việc mở ra các công đoàn tự do, độc lập là cần thiết để bắt kịp với các ‘cường quốc’ đã phát triển ở mức độ cao. Điều nực cười này đã cho thấy rằng các nhà lý luận ‘Mác-Lênin’ này chẳng hiểu (hoặc cố tình không hiểu) gì về chủ nghĩa đế quốc cả..

Một cách trực quan nhất, hãy quan sát các công đoàn ở quốc gia phát triển nhất – Hoa Kỳ. Trong bài viết “Sau sự chia rẽ trong các công đoàn Hoa Kỳ – Hướng đi nào cho lực lượng lao động?’ (After the Split in the US unions – Which Direction for Labor?) của David May, nói về hoạt động công đoàn ở Hoa Kỳ vào năm 2005:

…bộ máy quan liêu vẫn tiếp tục kiểm soát và kìm hãm các công đoàn cho đến ngày nay. Bắt đầu từ ban lãnh đạo Meaney, cánh hữu của bộ máy quan liêu AFL-CIO, vẫn là cánh chiếm ưu thế của nó, luôn duy trì mối quan hệ chặt chẽ không chỉ với cả hai đảng phái chính trị của các ông chủ mà còn với các cấp cao nhất của chính quyền Liên bang, đặc biệt là Bộ Ngoại giao và CIA. Vào những năm 1950, AFL-CIO, dưới sự chỉ đạo của Bộ Ngoại giao, đã thành lập Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Quốc tế Công đoàn Tự do (IFTU). IFTU được thành lập để làm đối trọng với sự trỗi dậy của chủ nghĩa Stalin và các cuộc đấu tranh của công nhân hiếu chiến ở ‘thế giới thứ ba’. Không có gì ngạc nhiên khi Quốc tế Công đoàn ‘Tự do’ do CIA tài trợ lại chẳng hề tự do chút nào. Một trong số các hoạt động đáng chú ý nhất của tổ chức này là tham gia vào cuộc đảo chính đẫm máu của Tướng Augusto Pinochet ở Chile năm 1973. Chính sách đối ngoại của AFL-CIO luôn đồng bộ với chính sách của Washington D.C. và cho đến tận ngày nay vẫn vậy. Trong Chiến tranh Việt Nam, các lãnh đạo công đoàn đã ủng hộ mạnh mẽ cuộc chiến và đóng vai trò lớn trong việc tổ chức các cuộc biểu tình ủng hộ chiến tranh.”

Ngay cả ở các nước ‘tư bản tiến bộ’ (đế quốc), giai cấp công nhân ở đó vẫn phải gánh chịu những áp bức từ phía các công đoàn và lãnh đạo của nó. Đấu tranh cho giai cấp công nhân theo lý thuyết về dân chủ đại nghị đầy siêu hình của chủ nghĩa tư bản, chúng lại ra sức thỏa hiệp và hòa hoãn những xung đột giai cấp. Xét cho cùng, điều này chứng minh rằng dù có ở trong các công đoàn và nó có được tô vẽ là tự do và độc lập đến đâu đi chăng nữa, đặt trong nền tảng tư tưởng tư bản, với kinh tế, chính trị, luật pháp tư bản, giai cấp công nhân vẫn luôn bị đàn áp. Ngay cả việc đấu tranh công đoàn thì người công nhân vẫn phải chịu sự đàn áp từ giai cấp thống trị, không thể nào họ có đủ khả năng và quyền lực để có quyền bình đẳng trong xã hội tư bản. Đình công và hoạt động công đoàn cũng có những giới hạn của nó, đó là nó vẫn thuộc về phương thức sản xuất và nền dân chủ tư sản.

Chương trình chuyển tiếp

Mặc dù hết sức chỉ trích tự do công đoàn theo kiểu ‘dân chủ tư sản’, cũng cần phải nói thêm rằng, chủ nghĩa cộng sản luôn luôn ủng hộ quyền dân chủ của công nhân trong công đoàn, cũng như sát cánh với họ trong các cuộc đình công. Tuy nhiên, không giống với phong ‘trào dân chủ tư sản’ và giới quan liêu hữu huynh, người cách mạng xã hội không cho rằng hoạt động công đoàn và đình công và thứ gì đỉnh cao và bất biến, mà chỉ coi đó là một bước đệm trong công cuộc giải phóng người công nhân, một yêu cầu trước mắt để có thể tiến đến chủ nghĩa xã hội, xóa bỏ hoàn toàn triệt để áp bức, bất công từ chính hệ thống tư bản chủ nghĩa gây ra. Tự do và dân chủ của công nhân theo chủ nghĩa xã hội, bằng chuyên chính vô sản cao hơn về chất lượng so với dân chủ tư sản.

Lênin cho rằng:

“ …các cuộc đình công dạy cho người lao động cách đoàn kết; chúng cho họ thấy rằng họ chỉ có thể đấu tranh chống lại bọn tư bản khi họ đoàn kết; các cuộc đình công dạy cho người lao động cách nghĩ về cuộc đấu tranh của toàn thể giai cấp công nhân chống lại toàn thể giai cấp chủ nhà máy và chống lại chính quyền cảnh sát độc đoán….Tuy nhiên, “trường học chiến tranh” không phải là chiến tranh….Đình công là một trong những cách mà giai cấp công nhân đấu tranh để giải phóng mình, nhưng chúng không phải là cách duy nhất; và nếu công nhân không chuyển sự chú ý của họ sang các phương tiện khác để tiến hành đấu tranh, họ sẽ làm chậm sự phát triển và thành công của giai cấp công nhân…” [12]

Vấn đề đặt ra là giai cấp công nhân, mặc dù là lực lượng đông đảo, là nòng cốt của hệ thống xã hội, vẫn đang bị đàn áp tàn bạo và thực sự chưa có đủ điều kiện tập hợp, giáo dục và sẵn sàng để tiến đến xã hội chủ nghĩa. Để giải quyết sự khác biệt giữa tình hình hiện tại và sự phát triển vượt bậc của chủ nghĩa xã hội tiến bộ trong tương lai, chúng ta cần phải có các chương trình chuyển tiếp để thực hiện việc quá độ, thoát thai khỏi xã hội cũ dựa những mầm mống hiện tồn dù là nhỏ nhất. Do đó, giai cấp công nhân cách mạng phải bằng nhiều cách thức khác nhau, đấu tranh từng bước và toàn diện để có thể hướng đến mục tiêu là cách mạng xã hội chủ nghĩa, lật đổ cùng lúc cả thể chế quan liêu và chủ nghĩa tư bản mục ruỗng.

Về ngôn luận của giai cấp công nhân, hiện tại, ở Việt Nam, các cơ quan báo chí đều được nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Hầu hết các cơ quan truyền thông ngôn luận này đều đóng vai trò phản động. Những minh chứng về việc chúng ‘phù phép câu chữ’ và sử dụng cụm từ ‘ngừng việc tập thể’ đã cho thấy sự đàn áp về mặt tư tưởng mà công nhân Việt Nam phải gánh chịu. Trước tình thế đó, người công nhân phải đấu tranh cho tự do ngôn luận, tự thiết lập ra các bộ phận truyền thông, thông tin cho riêng mình. Công nhân phải nâng cao tiếng nói và phanh phui sự thật trần trụi rằng: công nhân trong một quốc gia ‘xã hội chủ nghĩa’ lại chính là những người bị bóc lột dã man nhất. Thông qua các kênh thông tin của riêng mình, giai cấp công nhân sẽ không cần phải lệ thuộc vào hệ thống báo chí quan liêu biến chất và vi phạm trắng trợn đạo đức hành nghề.

Ngoài ra, chính qua các kênh ngôn luận độc lập của mình, công nhân các nhà máy, địa điểm khác nhau có cơ hội đến gần hơn với nhau, công nhân Việt Nam với công nhân thế giới sẽ đoàn kết hơn với nhau. Bởi lẽ, khi những sự thực được phản ánh chính xác bởi giai cấp công nhân, bất kỳ người vô sản nào cũng sẽ nhìn thấy hình ảnh của chính mình được phản chiếu, họ sẽ nhận ra rằng mình có chung cảnh ngộ của những người bị đàn áp và cần thiết phải đoàn kết để đấu tranh. Do vậy, đấu tranh cho tự do ngôn luận là hoàn toàn cần thiết.

Về mặt quyền lợi lao động và quyền lợi trong các công đoàn, trước thực trạng các công đoàn mang đầy tính phản động do sự lãnh đạo của các lãnh đạo công đoàn quan liêu, cần phải đấu tranh cho dân chủ công nhân trong các công đoàn. Thay vì được ‘chỉ định’ bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo công đoàn phải thực sự do công nhân tham gia công đoàn bầu ra, đặt dưới sự kiểm soát của công nhân và đấu tranh vì lợi ích thực sự của công nhân tham gia công đoàn. Từ đó, loại bỏ các bước cản quan liêu đối với phong trào đình công, hướng đến quá độ cách mạng chính trị. Bên cạnh đó, phải đấu từng bước giành quyền lợi lao động, tăng lương, giảm giờ làm. Từ đó, người công nhân mới có thể có thời gian giành cho hoạt động chính trị và học tập chính trị, chuẩn bị cho cách mạng xã hội chủ nghĩa để giải phóng giai cấp.

Về mặt tư tưởng và chính trị, giai cấp tư bản áp bức giai cấp công nhân Việt Nam thông qua sự chiếm hữu các tư liệu sản xuất, người công nhân vô sản không có gì trong tay, buộc phải bán sức lao động để nuôi sống chính mình và gia đình. Một ngày, trung bình công nhân Việt Nam tại các thành thị lớn phải làm việc từ khoảng hơn 10 giờ (đã tính cả làm thêm ngoài giờ-xem thêm thời giờ lao động trong Bộ luật Lao động Việt Nam), bên cạnh đó, với tình trạng giao thông tồi tệ, việc tham gia giao thông để di chuyển đến chỗ làm việc (không được tính vào thời gian hưởng lương) kéo dài từ 1-2 giờ một ngày. Người công nhân bị vắt kiệt sức lực tinh thần và thể xác trong một ngày lao động, không có thời gian để tự nghiên cứu tìm tòi lý luận cách mạng đầy đủ và sinh hoạt chính trị.

Trước tình thế đó, một Đảng lãnh đạo giai cấp phải có nhiệm vụ giáo dục lý thuyết cách mạng và đấu tranh bảo vệ giai cấp công nhân. Thế nhưng, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam lại không có tí nào liên quan đến điều đó cả. Để bảo vệ cho địa vị của mình, đẳng cấp quan liêu ra sức xuyên tạc, cắt xén, loại bỏ những phần cách mạng nhất của chủ nghĩa Marx. Tệ hại hơn nữa, chúng đã thay thế cho những phần cách mạng ấy bằng cách kết hợp chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa dân túy.

Kết quả cho điều ấy là: học thuyết Marx, từ chỗ là học thuyết cách mạng, giờ đây được biến đổi và chiếm được một chỗ trong ‘Tư tưởng Hồ Chí Minh’, trở ‘thành cái thứ xương cốt vô hồn’ (die leblosen Knochen eines Skeletts) chứ không còn là “cuộc sống sinh động đang diễn ra” nữa.

Chủ nghĩa Marx cách mạng, ở Việt Nam, thay vì được lan tỏa đến khắp các công đoàn, nơi làm việc của công nhân thì giờ đây được bàn luận chủ yếu trong phòng máy lạnh của các ‘hội đồng lý luận’. Thay vì người lao động, những người sử dụng học thuyết Marx chủ yếu lại là các ‘giáo sư, chuyên gia’ kinh viện, chỉ biết chăm chăm trích dẫn sách vở mà ca ngợi ‘sự nghiệp vĩ đại’ của những kẻ trả tiền cho mình. Thay vì biện chứng duy vật, phương pháp luận chủ yếu của những người này lại là nịnh hót và tung hô. Thay vì kêu gọi đứng lên giành chính quyền và thực hiện chuyên chính vô sản bằng sức mạnh của giai cấp công nhân, họ lại ‘mê hoặc’ quần chúng bằng các tác phẩm ‘chống luận điệu xuyên tạc’ đầy tính sáo rỗng. Cứ theo cái lối ấy, Marx, Engels, Lênin, thậm chí đến cả lãnh tụ Hồ Chí Minh của họ cũng đều ‘xuyên tạc’ chủ nghĩa ‘Mác-Lênin’ hết thảy, còn Trotsky thì không cần phải bàn cãi!

Phỉ báng thay, bọn quan liêu ‘cộng sản’, trên khắp các mặt sách báo được xuất bản hàng ngày, hàng giờ, liên tục có các luận điệu ‘chống xuyên tạc’ về ‘chuyên chính vô sản’, ‘thời kỳ quá độ’, ‘xây dựng chủ nghĩa xã hội’ và ‘kỷ nguyên vươn mình’. Chính điều này đã chỉ ra một thực tế rõ ràng rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam không phải ‘đảng của giai cấp công nhân và quần chúng cần lao’, mà là tổ chức phản động lớn nhất Việt Nam, kẻ thù lớn nhất của giai cấp công nhân Việt Nam hiện tại!

Do đó, người công nhân cách mạng cần phải ra sức học tập, nguyên cứu lý thuyết cách mạng vô sản của chủ nghĩa Marx chân chính, đập tan các âm mưu ‘xuyên tạc’, ‘bịa đặt’ của Đảng Cộng sản Việt Nam –tổ chức thù địch với giai cấp vô sản. Mục tiêu đặt ra là cần phải chống lại các luận điệu ‘chống xuyên tạc’ của những kẻ xuyên tạc.

Công nhân Việt Nam không chỉ thiếu thốn về thu nhập, tiền lương, việc làm, thời gian nghỉ ngơi …; mà thiếu thốn hơn cả là lý thuyết Marx chân chính về cách mạng, về đấu tranh giải phóng giai cấp; và cùng với đó là một tổ chức lãnh đạo có thể tập hợp, đấu tranh một cách đoàn kết hoàn toàn vì lợi ích của giai cấp vô sản, dựa trên những con đường mà học thuyết Marx đề ra – một đảng cộng sản cách mạng chân chính! 


TRÍCH DẪN:

[1] Nguyên nhân ùn ứ tại bãi rác Đa Phước trong đêm cận Tết Ất Tỵ, báo Dân trí ngày 24/01/2025

[2] Nhiều tài xế taxi điện Cà Mau đình công sau khi giám đốc đập bàn nói ‘giải tán, Báo Tuổi trẻ online ngày 01/01/2025

[3] Vụ doanh nghiệp nói ‘sẵn sàng đi tù nếu xóa được nợ với công nhân’: Tỉnh có chỉ đạo mới, Báo Tuổi trẻ online ngày 25/04/2025 

[4] Cảnh giác với thông tin xấu, độc, sai sự thật về vụ việc công nhân ngừng việc tập thể, Báo Thanh Hóa ngày 07/03/2025

[5] Hoàn thiện pháp luật về tổ chức đại diện người lao động, trên trang Tạp chí Xây dựng Đảng ngày 29/4/2023

[6] Tại sao luôn là đình công tự phát? (Phần 1), trên trang Cổng thông tin điện tử Công đoàn lao động Việt Nam ngày 24/11/2017

* Xem thêm: B. Gliniecki,Những kẻ mị dân và độc tài: Chủ nghĩa Bonaparte là gì?, ngày 12/04/2024 trên trang marxist.com

 [7] Các doanh nghiệp nhà nước làm ăn ra sao?, Báo Dân trí ngày 0/10/2024

[8] Hàng Việt xuất khẩu TOP đầu thế giới, Báo Tuổi trẻ online ngày 02/01/2023

[9] Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo Bộ luật Lao động năm 2019, trên trang Tạp chí lập pháp Việt Nam ngày  07/01/2021

[10] Bài 1: Nội dung cơ bản của Công ước 87, trên trang laodongcongdoan.vn

[11] Thực hư chuyện ‘công đoàn’ độc lập được thừa nhận ở VN?, BBC NEWS Tiếng Việt

[11] V. I. Lênin (1988), Về đình công