Phong trào hay cách mạng: chính trị bản sắc tại Việt Nam

Hình ảnh lá cờ lục sắc có kèm chữ Viet Pride
Hình ảnh lá cờ lục sắc có kèm chữ Viet Pride

Tác giả

Chủ nghĩa tư bản thế giới đang khủng hoảng sâu sắc, và cùng với sự vỡ mộng của hàng triệu người trẻ là một hiện tượng lặp lại: chủ nghĩa Marx đang quay trở lại. Trong vài năm qua, sự phát triển của các phong trào chống áp bức là một trong số ít nơi mà người trẻ Việt Nam tự tìm đến chủ nghĩa Marx. Họ đến với Marx không phải qua giờ học chính trị, nơi chủ nghĩa Marx đã bị biến thành giáo điều bảo vệ tính chính danh của bộ máy quan liêu. Họ đến từ trải nghiệm trực tiếp của mình, và phát triển ý thức cách mạng qua chính hiện thực tranh đấu. Chính trong phong trào này, những người trẻ từng quen với ngôn ngữ của quyền cá nhân, đa dạng và bao dung đã bắt đầu nói bằng một thứ ngôn ngữ khác, và thậm chí đã cất lên lời kêu gọi: “Chúng ta cần một cuộc cách mạng vô sản toàn cầu!”

Lời kêu gọi ấy không phải một cơn bốc đồng nhất thời, cũng chưa phải là bằng chứng rằng cách mạng đã ở ngay trước mắt. Nó là biểu hiện của một quá trình chuyển hóa đang diễn ra bên trong phong trào: từ một phong trào dân quyền mang đậm dấu ấn của mô hình xã hội dân sự phương Tây, sang một phong trào ngày càng ý thức về bản chất của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản. Quá trình ấy chưa hoàn tất. Phong trào đang đứng ở một điểm nút lịch sử: nó có thể trở thành một bộ phận tiên tiến của cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, nhưng cũng có thể bị hòa tan vào trật tự hiện hữu, bị thu phục bởi các quỹ tài trợ, các tập đoàn và diễn ngôn tự do chủ nghĩa.

Con đường nào sẽ thắng thế không phải là điều được định sẵn. Nó phụ thuộc vào lực lượng lãnh đạo, vào đường lối lý luận và vào việc những người cách mạng có can thiệp vào quá trình ấy hay không. Bài viết này là một nỗ lực nhằm lý giải hiện trạng của phong trào bằng phương pháp của chủ nghĩa Marx, và từ đó chỉ ra nhiệm vụ của những người cách mạng trong giai đoạn hiện nay.

I. Từ “Tôi Đồng Ý” đến “Chúng ta cần cách mạng vô sản”: một phong trào đang lớn lên

Năm 2013, chiến dịch “Tôi Đồng Ý” phủ kín mạng xã hội Việt Nam (1). Hàng chục ngàn người thay ảnh đại diện, người nổi tiếng đồng loạt lên tiếng, báo chí đưa tin rầm rộ. Chiến dịch được tổ chức bài bản, chuyên nghiệp và mang đậm màu sắc quốc tế, điều cũng dễ hiểu khi đứng sau nó là nguồn tiền của các tổ chức phi chính phủ và các chương trình viện trợ phương Tây.

Suốt gần một thập kỷ sau đó, đây chính là gương mặt của phong trào LGBT Việt Nam. Các tổ chức như ICS hay iSEE vạch ra chương trình nghị sự; truyền thông, hội thảo và vận động chính sách là phương thức hoạt động; thay đổi luật pháp và nhận thức xã hội là mục tiêu. Phải công bằng mà nói, phong trào đã giành được những thắng lợi có thật. Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 bỏ quy định cấm kết hôn cùng giới, Bộ luật Dân sự 2015 thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính (2), và người LGBT dần bước ra khỏi bóng tối để hiện diện công khai trong đời sống xã hội. Không ai có quyền xem nhẹ những thành quả ấy.

Thế nhưng, đồng tiền tài trợ chưa bao giờ đến một mình. Cùng với nó là cả một hệ tư tưởng. Phong trào được dạy để nói bằng ngôn ngữ của quyền cá nhân, của “đa dạng” và “bao dung”. Nó được dạy để coi định kiến là kẻ thù, còn các đại sứ quán, tập đoàn và chính phủ “tiến bộ” là bạn đồng hành. Còn những câu hỏi về lao động, về bóc lột, về bản chất của hệ thống thì bị gạt ra ngoài lề, như thể chúng chẳng liên quan gì đến đời sống của người LGBT.

Ảo tưởng ấy không đứng vững được lâu trước thực tiễn.

Đại dịch COVID-19 cho thấy mỗi khi khủng hoảng ập đến, những người yếu thế luôn là những người bị bỏ rơi trước tiên. Biết bao người LGBT làm lao động tự do, bị gia đình ruồng bỏ, đã rơi vào cảnh không việc làm, không nơi nương tựa, không một tấm lưới an sinh nào đỡ lấy. Những lời kêu gọi “bao dung” lúc ấy không thay được bát cơm hay tiền trọ.

Nhưng cú sốc lớn nhất đến từ Gaza. Nhiều năm liền, Israel tự quảng bá mình là “thiên đường của người đồng tính” giữa Trung Đông. Rồi cả thế giới được chứng kiến cảnh binh lính Israel giương cờ cầu vồng trên đống đổ nát của Gaza, nơi hàng chục ngàn thường dân vừa bị sát hại (3). Quyền LGBT, thứ mà bao người đã đấu tranh suốt nhiều năm, bị biến thành tấm bình phong cho một cuộc diệt chủng. Đúng là treo đầu dê bán thịt chó. Trớ trêu hơn, chính những chính phủ phương Tây từng rộng tay tài trợ cho phong trào lại là những kẻ cung cấp bom đạn cho cuộc tàn sát ấy.

Nước Mỹ, vốn được tôn làm hình mẫu về quyền LGBT, tiếp tục cho thêm một bài học. Chỉ bằng một sắc lệnh của Donald Trump năm 2025, hàng loạt bệnh viện ngừng điều trị cho người chuyển giới trẻ tuổi (4). Những tập đoàn từng tranh nhau treo cờ cầu vồng mỗi tháng Sáu cũng lặng lẽ rút tài trợ khỏi các “Ngày Hội Tự Hào” (Pride) khi thấy gió chính trị đổi chiều (5). Hóa ra với giới tư bản, lá cờ cầu vồng chẳng qua là một món hàng tiếp thị, có lợi thì treo lên, hết lợi thì cất đi.

Với nhiều người trẻ Việt Nam, bài học đã quá rõ ràng. Những quyền được ban phát trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản cũng có thể bị tước đoạt bất cứ lúc nào. Những kẻ tự nhận là người bảo trợ của phong trào chưa bao giờ là đồng minh thực sự.

Trước ngưỡng cửa đấu tranh giai cấp

Từ chính sự vỡ mộng ấy, một xu hướng mới đã ra đời. Các nhóm đọc Marx lần lượt xuất hiện, tài liệu Marxist được truyền tay, những cuộc thảo luận về chủ nghĩa đế quốc, về Palestine, về thực dân mới diễn ra ngày càng sôi nổi. Và rồi khẩu hiệu “Chúng ta cần một cuộc cách mạng vô sản toàn cầu!” đã vang lên. Đây là một bước tiến có ý nghĩa to lớn: bộ phận tiên tiến nhất của phong trào đã đứng trước ngưỡng cửa của đấu tranh giai cấp, khi bắt đầu tự hỏi vì sao áp bức giới lại gắn chặt với một hệ thống bóc lột.

Song cũng cần nói thẳng rằng họ vẫn chưa bước qua ngưỡng cửa ấy. Lực lượng của phong trào vẫn chủ yếu là sinh viên và trí thức đô thị. Nó chưa có yêu sách nào gắn với đời sống người lao động, chưa đặt chân vào các khu công nghiệp, chưa chạm tới những người LGBT là công nhân, là nông dân. Về lý luận, chủ nghĩa Marx vẫn đang tồn tại song song, thậm chí lẫn lộn, với các lý thuyết hậu hiện đại về bản sắc. Và dù sôi nổi đến đâu, xu hướng cách mạng này vẫn là thiểu số trong một phong trào mà phần đông vẫn đi theo lối mòn cũ.

Có thể nói phong trào đã rũ bỏ được ảo tưởng cũ nhưng chưa tìm ra con đường mới, đang đứng giữa hai thời kỳ. Muốn hiểu vì sao nó đi được đến đây và vì sao nó dừng lại ở đây, cần đi sâu vào những điều kiện vật chất và giai cấp đã quy định nó.

II. Bản chất của phong trào chính trị bản sắc

Muốn hiểu một phong trào, không thể chỉ nghe những gì nó tự nói về mình. Khẩu hiệu, tư tưởng hay tổ chức suy cho cùng chỉ là phần nổi của những biến đổi sâu xa hơn trong đời sống vật chất của xã hội. Marx đã tóm lược nguyên lý ấy trong một câu nổi tiếng: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” (6). Đặt phong trào LGBT Việt Nam dưới ánh sáng ấy, ta sẽ thấy cả những thành tựu lẫn giới hạn của nó đều có nguồn gốc rõ ràng, chứ không phải chuyện ngẫu nhiên hay thuần túy do ý chí của những người trong cuộc.

Trước hết là sự kỳ thị. Người ta thường giải thích nó bằng “tư tưởng phong kiến” hay “định kiến văn hóa”. Cách giải thích ấy không sai, nhưng mới chỉ dừng ở bề mặt. Câu hỏi cần đặt ra là vì sao những định kiến ấy vẫn sống dai dẳng đến vậy giữa thời đại Internet và hội nhập. Câu trả lời nằm ở chỗ Việt Nam vẫn chưa hoàn thành công nghiệp hóa. Bên cạnh những khu công nghiệp hiện đại vẫn còn cả một khu vực nông nghiệp rộng lớn, bên cạnh các tập đoàn công nghệ vẫn còn hàng triệu người buôn bán nhỏ, làm thuê, sản xuất cá thể. Trong một nền kinh tế như thế, gia đình không chỉ là nơi gắn kết tình cảm mà còn là một đơn vị kinh tế: nơi tích lũy tài sản, nuôi dạy sức lao động, chăm lo lúc ốm đau và tuổi già khi an sinh xã hội còn mỏng manh.

Engels đã chỉ ra mối liên hệ này từ hơn một thế kỷ trước: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy cho đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại. Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống” (7). Khi gia đình còn gánh vác cả hai loại sản xuất ấy, việc lấy vợ lấy chồng, sinh con nối dõi không đơn thuần là lựa chọn cá nhân mà trở thành bổn phận. Người không đi theo khuôn mẫu ấy dễ bị coi là đi ngược lại lợi ích của cả gia đình, dòng họ.

Lịch sử càng củng cố thêm điều đó. Gần một thế kỷ chiến tranh, rồi những năm tháng cấm vận và thiếu đói, đã buộc cả xã hội phải tổ chức quanh mục tiêu sinh tồn. Gia đình là nơi duy trì nòi giống, nuôi quân, giữ đất. Trong hoàn cảnh ấy, các vấn đề về bản dạng giới gần như không có chỗ đứng. Không phải vì chúng không tồn tại, mà vì cái đói, cái chết cấp bách hơn. Cũng vì thế, khi phong trào LGBT xuất hiện cùng làn sóng hội nhập, không ít người lập tức coi đó là thứ “ngoại lai”. Nhận thức ấy chưa đúng, nhưng nó có cơ sở vật chất của nó. Người cách mạng không thể chỉ chê trách quần chúng là “lạc hậu”, mà phải hiểu điều gì đã tạo nên nhận thức ấy thì mới mong thay đổi được nó.

Nếu di sản chiến tranh giải thích vì sao phong trào xuất hiện muộn, thì kinh tế thị trường giải thích vì sao nó lớn nhanh và vì sao nó mang hình hài như ta đã thấy. Đổi Mới và hội nhập không chỉ mang vào Việt Nam vốn và công nghệ, mà còn sản sinh ra một tầng lớp tiểu tư sản đô thị đông đảo: sinh viên, trí thức, người buôn bán và doanh nghiệp nhỏ lẻ, người làm truyền thông, nghệ sĩ. Đây là những người có điều kiện học đại học, biết ngoại ngữ, sử dụng Internet và kết nối với thế giới, và cũng chính họ trở thành lực lượng nòng cốt của phong trào LGBT. Công nhân quần quật mười hai tiếng trong nhà máy, nông dân lo từng vụ mùa, lấy đâu ra thời gian và điều kiện để dự hội thảo hay dựng chiến dịch truyền thông.

Một phong trào do tầng lớp nào dẫn dắt thì sẽ mang dấu ấn tư tưởng của tầng lớp ấy. Tiểu tư sản đô thị vốn đặt cá nhân ở trung tâm, tin vào khả năng cải thiện xã hội bằng pháp luật và thuyết phục, và dễ tiếp nhận hệ giá trị của phương Tây, nơi họ nhìn thấy hình mẫu của sự tiến bộ. Nhưng đó không chỉ là lựa chọn tự thân của họ. Marx và Engels đã viết: “Những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị trong mỗi thời đại. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội” (8). Trong một thế giới mà giai cấp tư sản đế quốc nắm giữ tiền bạc, truyền thông và các quỹ tài trợ, thì cũng chính họ định hình khuôn khổ tư tưởng cho các phong trào xã hội, kể cả ở những nước cách họ nửa vòng trái đất.

Kết quả là một phong trào mang đầy đủ đặc điểm của chính trị bản sắc: tập hợp con người quanh bản dạng giới và xu hướng tính dục, đấu tranh để được công nhận, và coi sự công nhận ấy là đích đến. Chính trị bản sắc có mặt tiến bộ của nó. Nó giúp những người từng bị cô lập tìm thấy nhau, cất lên tiếng nói và buộc xã hội phải nhìn thẳng vào những bất công từng bị coi là chuyện thường tình. Nhưng giới hạn của nó cũng nằm ngay ở đó. Khi sự công nhận trở thành mục tiêu cuối cùng, phong trào dễ bị thế lực cai trị lợi dụng. Giai cấp tư sản sẵn sàng nhượng bộ những yêu sách về biểu tượng, miễn là nền tảng bóc lột vẫn còn nguyên vẹn. Treo một lá cờ cầu vồng thì rẻ hơn nhiều so với tăng lương hay mở rộng y tế công.

Thế nhưng, nếu ý thức được quyết định bởi tồn tại, thì khi tồn tại thay đổi, ý thức sớm muộn cũng phải thay đổi theo. Những năm 2020 đã chứng kiến chủ nghĩa tư bản thế giới bước vào một thời kỳ khủng hoảng triền miên: đại dịch, lạm phát, chiến tranh, và sự trỗi dậy của các thế lực cực hữu ngay tại những nước từng tự nhận là thành trì của tự do. Hơn một thế kỷ trước, Lenin đã đưa ra nhận định: “chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản độc quyền, là chủ nghĩa tư bản ăn bám hoặc thối nát, là chủ nghĩa tư bản giãy chết” (9). Những gì diễn ra trên toàn thế giới hôm nay chỉ là minh chứng sống động cho nhận định ấy.

Điều đáng chú ý là người trẻ trong phong trào không đến với những kết luận chống đế quốc qua sách vở trước, mà qua chính kinh nghiệm của mình. Họ thấy quyền LGBT bị biến thành công cụ tuyên truyền chiến tranh. Họ thấy những quyền tưởng như vững chắc bị xóa bỏ chỉ sau một đêm. Họ thấy các tập đoàn thay đổi thái độ như trở bàn tay. Thực tiễn ấy đã làm được điều mà hàng trăm bài giảng không làm được: phá vỡ niềm tin vào con đường cải lương trong khuôn khổ hệ thống.

Nhưng cũng chính cơ sở giai cấp của phong trào đang kìm hãm nó. Tiểu tư sản là tầng lớp đứng giữa, bị kẹp giữa tư sản và vô sản. Họ có thể rất cấp tiến về tư tưởng, có thể nhiệt thành hô vang khẩu hiệu cách mạng, nhưng lại khó gắn bó bền bỉ với tổ chức và khó tìm được tiếng nói chung với người lao động. Sự phẫn nộ của họ dễ bùng lên trên mạng xã hội, rồi cũng dễ lắng xuống khi làn sóng qua đi.

Về mặt tư tưởng, nhiều người trong phong trào tiếp cận vấn đề giới qua các lý thuyết hậu hiện đại, tiêu biểu là Judith Butler. Những lý thuyết ấy có công chỉ ra rằng nhiều chuẩn mực về giới là sản phẩm của xã hội chứ không phải bản tính tự nhiên. Nhưng chúng lại tách giới ra khỏi nền tảng vật chất, coi áp bức chủ yếu là vấn đề ngôn ngữ, diễn ngôn và biểu hiện. Hệ quả là không ít người, khi tiếp cận chủ nghĩa Marx, đã vội phê phán nó “giản lược mọi thứ về giai cấp” mà không nhận ra rằng chính chủ nghĩa Marx mới giải thích được vì sao những chuẩn mực ấy ra đời, tồn tại và sẽ mất đi. Tình hình còn phức tạp hơn bởi chủ nghĩa Marx mà người trẻ Việt Nam được tiếp xúc thường đã bị biến dạng từ hai phía. Một bên là thứ chủ nghĩa Marx giáo điều trong hệ thống giáo dục, bị cắt xén tính chiến đấu để phục vụ bộ máy quan liêu. Bên kia là thứ “chủ nghĩa Marx học viện” của các trường đại học phương Tây, đã bị tách khỏi phong trào công nhân và pha trộn với đủ loại lý thuyết thời thượng. Người trẻ muốn tìm đến Marx đích thực phải vượt qua cả hai lớp sương mù ấy.

Từ những phân tích trên, có thể thấy cuộc tranh luận “bản sắc hay giai cấp” vốn đang chia rẽ phong trào thực chất là một sự đối lập giả tạo. Áp bức đối với người LGBT không tồn tại song song hay tách biệt với quan hệ giai cấp. Nó bắt rễ từ chính cách xã hội tổ chức sản xuất và tái sản xuất đời sống. Một người đồng tính bị gia đình từ chối sẽ lâm vào cảnh khốn cùng hay có thể tự đứng vững, điều ấy phụ thuộc vào việc họ có việc làm, có nhà ở, có an sinh hay không. Một người chuyển giới có được sống đúng với mình hay không phụ thuộc vào việc y tế là quyền lợi hay là món hàng. Nói cách khác, áp bức giới không thể được giải quyết triệt để nếu không động đến nền tảng kinh tế đã sản sinh và nuôi dưỡng nó.

Phong trào LGBT Việt Nam, vì thế, đang đứng ở một điểm nút đúng theo nghĩa biện chứng. Những thay đổi về lượng đã tích tụ đủ: sự vỡ mộng với mô hình cũ, sự thức tỉnh chống đế quốc, nhu cầu tìm hiểu lý luận của hàng chục ngàn người trẻ. Nhưng bước nhảy về chất, từ một phong trào bản sắc thành một bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp, sẽ không tự động xảy ra. Nó đòi hỏi một lực lượng có ý thức, có đường lối và có tổ chức để dẫn dắt. Đó chính là nhiệm vụ đặt ra cho những người cách mạng.

III. Nhiệm vụ của người cách mạng

Việc một người không chỉ đứng lên đòi quyền sống cho chính mình, mà còn đòi hỏi xóa bỏ áp bức đối với đồng loại, dám lên tiếng và hành động vì những giá trị tiến bộ là một bầu nhiệt huyết quý giá mà chúng ta đều cần đến.

Nhưng cũng chính vì trân trọng nhiệt huyết ấy, chúng ta càng phải thẳng thắn nhìn vào những khó khăn mà phong trào đang gặp phải. Như đã phân tích, phong trào ra đời từ tầng lớp tiểu tư sản đô thị, lớn lên trong vòng tay của các quỹ tài trợ, và tiếp cận lý luận qua những lăng kính đã bị bóp méo. Vì thế, lý luận của phong trào còn non yếu so với mục tiêu cao cả mà nó muốn đạt được, và những người dẫn dắt nó, dù chân thành đến đâu, vẫn chưa có được sợi dây gắn bó thực sự với giai cấp công nhân. Ở Việt Nam hôm nay, gần như không có nơi nào để người trẻ được học chủ nghĩa Marx một cách đúng đắn, cũng gần như không có tổ chức nào đủ sức dẫn họ đến với phong trào công nhân.

Hệ quả là nhiều người đã phải tự mò mẫm, và cứ mãi đâm đầu vào tường. Mỗi khi có một sự kiện chấn động trên toàn thế giới, làn sóng phẫn nộ lại dâng lên. Người ta viết, chia sẻ, lập nhóm đọc sách, hẹn nhau thảo luận. Rồi sự kiện qua đi, làn sóng lắng xuống, nhóm đọc sách thưa dần, những cuộc tranh luận “bản sắc hay giai cấp” trên mạng để lại nhiều tổn thương hơn là sáng tỏ. Không ít người kiệt sức, hoài nghi, có người lặng lẽ quay về với các dự án tài trợ vì đó là con đường duy nhất họ biết. Ai từng đi qua những vòng lặp ấy đều hiểu cảm giác đó: đã cố gắng hết sức mà vẫn không biết mình đang đi về đâu.

Vấn đề không nằm ở chỗ những nhà hoạt động ấy thiếu quyết tâm. Vấn đề là nhiệt huyết không thể thay thế cho lý luận, và tinh thần không thể thay thế cho tổ chức. Một phong trào tự phát, dù sôi nổi đến đâu, cũng rất khó tự mình vượt qua giới hạn của những điều kiện đã sinh ra nó. Lối thoát không nằm ở một chiến dịch mới hay một làn sóng phẫn nộ mới, mà nằm ở con đường mà những người cách mạng ở khắp nơi đã từng đi qua. Điều phong trào cần lúc này là một quan điểm đúng đắn về cuộc đấu tranh chống áp bức, và một tổ chức đủ sức biến quan điểm ấy thành hành động. Đó chính là điều mà chúng tôi, Tranh Đấu, đang nỗ lực xây dựng.

Tranh Đấu nhìn nhận cuộc đấu tranh chống áp bức như thế nào?

Chúng tôi cho rằng áp bức đối với người LGBT không phải là một vấn đề riêng lẻ, càng không chỉ là chuyện định kiến hay nhận thức. Nó bắt rễ từ chính xã hội có giai cấp, từ cách xã hội ấy tổ chức sản xuất và tái sản xuất đời sống con người. Chừng nào nền tảng bóc lột còn tồn tại, chừng đó áp bức còn có đất để sinh sôi. Vì thế, sự giải phóng triệt để của người LGBT gắn liền với sự giải phóng của toàn thể giai cấp lao động.

Nhưng điều đó không có nghĩa là bảo người LGBT hãy chờ đến ngày cách mạng. Ngược lại, người cộng sản phải là những người đấu tranh kiên quyết nhất cho mọi quyền dân chủ của người LGBT ngay từ hôm nay: quyền được học tập, làm việc, chăm sóc sức khỏe mà không bị phân biệt, quyền được công nhận bản dạng giới, quyền xây dựng gia đình. Mỗi thắng lợi như vậy đều có ý nghĩa, bởi nó giúp những con người cụ thể được sống tốt hơn và mở rộng không gian cho cuộc đấu tranh. Điều chúng tôi không chấp nhận là coi sự công nhận trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản là đích đến cuối cùng. Những gì Gaza và Washington đã cho thấy là bài học không thể quên: quyền được ban phát thì cũng có thể bị thu hồi.

Cũng vì vậy, chúng tôi tin rằng đồng minh thực sự của người LGBT không phải là các đại sứ quán, các quỹ tài trợ hay các tập đoàn treo cờ cầu vồng, mà là giai cấp công nhân. Bản sắc và giai cấp không phải hai phe đối địch. Chính giai cấp thống trị mới là kẻ cố tình biến chúng thành hai phe. Ở Mỹ, Trump kích động nỗi sợ người chuyển giới trong khi giảm thuế cho người giàu và cắt bảo hiểm y tế của người nghèo. Ở Nga, Putin cấm “tuyên truyền LGBT” nhân danh “giá trị truyền thống” trong khi đẩy hàng vạn thanh niên lao động ra chiến trường. Ở Hungary, Orbán cấm cả diễu hành Pride. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Mỗi khi bàn đến chuyện tỷ lệ sinh giảm hay giới trẻ ngại kết hôn, không ít tiếng nói lập tức đổ lỗi cho “lối sống ích kỷ”, cho “trào lưu LGBT du nhập từ phương Tây” làm lung lay gia đình truyền thống. Nhưng người công nhân lương vài triệu một tháng, ở phòng trọ chục mét vuông, làm tăng ca đến kiệt sức, thì lấy đâu ra điều kiện để lập gia đình và nuôi con? Thay vì hỏi vì sao đồng lương không đủ sống và vì sao nhà ở vượt quá tầm với, người ta được dạy để nghi kỵ người đồng nghiệp đồng tính bên cạnh mình như một mối đe dọa với gia đình. Chia rẽ người bị áp bức để che giấu nguyên nhân thực sự của khổ đau, đó là mánh khóe lâu đời nhất của mọi giai cấp thống trị.

Bản sắc chung cũng không bao giờ thay thế được lợi ích giai cấp. Caitlyn Jenner, người phụ nữ chuyển giới nổi tiếng bậc nhất nước Mỹ, công khai ủng hộ Trump và phản đối việc nữ sinh chuyển giới thi đấu thể thao nữ; Alice Weidel, một phụ nữ đồng tính, lại đang lãnh đạo đảng cực hữu AfD ở Đức, một đảng luôn công kích cái mà họ gọi là “hệ tư tưởng giới”. Khi phải lựa chọn, những người như vậy luôn trung thành với giai cấp của mình chứ không phải với những người LGBT lao động. Người LGBT lao động chịu cả hai tầng áp bức, và sự đoàn kết giữa phong trào LGBT với phong trào công nhân là sức mạnh mà giai cấp thống trị sợ nhất. Để giữ được sự đoàn kết ấy, phong trào phải độc lập với mọi thế lực tư sản và đế quốc, dù là trong nước hay quốc tế, và phải đứng chung hàng ngũ với những người bị áp bức trên toàn thế giới.

Tham gia với chúng tôi ngay hôm nay để là một phần của cuộc cách mạng chấm dứt mọi áp bức trên toàn thế giới!

Tài liệu tham khảo

(1) “I Do campaign”, Wikipedia. https://en.wikipedia.org/wiki/I_Do_campaign

(2) Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật Hôn nhân và Gia đình, số 52/2014/QH13, ngày 19/6/2014, Điều 8; Bộ luật Dân sự, số 91/2015/QH13, ngày 24/11/2015, Điều 37.

(3) Pierrick Yvon (AFP), “Gaza pride flag images reignite ‘pinkwashing’ debate”, Al-Monitor, 21/11/2023. https://www.al-monitor.com/originals/2023/11/gaza-pride-flag-images-reignite-pinkwashing-debate

(4) “Bệnh viện Mỹ ngừng điều trị người chuyển giới sau sắc lệnh của Trump”, VnExpress. https://vnexpress.net/benh-vien-my-ngung-dieu-tri-nguoi-chuyen-gioi-sau-sac-lenh-cua-trump-4846574.html

(5) “NYC Pride confirms sponsors ‘have pulled back’ amid Trump’s DEI attacks”, PinkNews, 22/5/2025. https://www.thepinknews.com/2025/05/22/nyc-pride-dei-rollback/

(6) C. Mác, Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, Lời tựa (1859). In trong: C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.15.

(7) Ph. Ăngghen, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Lời tựa lần xuất bản thứ nhất (1884). In trong: C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, t.21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.44.

(8) C. Mác và Ph. Ăngghen, Hệ tư tưởng Đức (1845–1846). In trong: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.66.

(9) V.I. Lênin, Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản (1916), chương X. In trong: V.I. Lênin, Toàn tập, t.27, Nxb Chính trị quốc gia (cần kiểm tra số trang theo bản đang dùng).