Đằng sau hào quang Cách Mạng tháng 8

Tác giả

Lịch sử bị che giấu của những người Trotskyist Việt Nam

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn thường được kể lại như một chiến công trọn vẹn: xoá bỏ ách phong kiến, đánh đuổi thực dân, giành lại độc lập cho một dân tộc đã bị đô hộ gần một thế kỷ. Đó là một phần sự thật xứng đáng được ghi nhận và bảo vệ. Ở miền Bắc, chế độ phong kiến và quan hệ sản xuất tư bản thực sự đã bị xoá bỏ, một nền kinh tế kế hoạch hoá đã được dựng lên, dù mang nặng tính quan liêu. Từ nền tảng đó, cuộc kháng chiến chống đế quốc cuối cùng đã đưa đất nước tới thống nhất, chấm dứt sự chia cắt kéo dài từ những ngày đầu bị đô hộ và từ sau năm 1946.

Nhưng đó chỉ là một nửa câu chuyện. Cuộc cách mạng ấy đã bị chệch hướng và dừng lại nửa chừng, trong khi đáng lẽ nó có thể đi xa hơn rất nhiều. Nếu không có sự phản bội giai cấp khiến nó chệch hướng, đất nước có lẽ đã thống nhất sớm hơn nhiều năm, với một nền kinh tế tập trung thực sự đặt dưới quyền dân chủ của công nhân, một nhà nước công nhân khoẻ mạnh, chứ không phải một đất nước đã quay trở lại chủ nghĩa tư bản như ngày nay. Chúng ta công nhận thành tựu cách mạng, và không ngừng tìm hiểu lịch sử và những hạn chế của cuộc cách mạng, để có thể tiến lên.

Sách giáo khoa lịch sử dạy chúng ta rằng Cách mạng Tháng Tám là một nước cờ khôn khéo, lắt léo, được thực hiện trong một tình huống phức tạp ngàn năm có một để giành lấy độc lập cho đất nước, và rằng người lãnh đạo toàn dân, lãnh đạo giai cấp vô sản, đứng sau mọi chiến thắng hiện đại của Việt Nam, không ai khác ngoài Việt Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng sự thật có đúng như vậy không?

Ngày nay, di sản của Cách mạng Tháng Tám đang bị dùng để củng cố chủ nghĩa dân tộc, trong khi bản thân Đảng Cộng sản đã đi một con đường ngược hẳn với những gì nó từng tuyên bố: phục hồi chủ nghĩa tư bản, thắt chặt quan hệ với chính những thế lực đế quốc mà nó từng chống lại, và bỏ mặc các nạn nhân hiện tại của chủ nghĩa đế quốc, tất cả nhân danh “lợi ích quốc gia”. Để hiểu được tình cảnh ấy, cần phải hiểu bản chất thật sự của Đảng Cộng sản Việt Nam, hiểu vì sao nó suy đồi, và những sai lầm nó đã mắc phải ngay từ đầu. Muốn vậy, không thể bỏ qua một chương lịch sử đã bị bôi nhọ và che giấu suốt nhiều thập kỷ: lịch sử của phong trào Đệ Tứ, của những người Bolshevik-Leninist, hay còn gọi là Trotskyist, và cuộc đấu tranh chân chính mà họ đã theo đuổi.

Bài viết này có ba mục tiêu: dựng lại lịch sử thật của những người Trotskyist ở Việt Nam trong quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam, nhìn thẳng vào bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam, và làm rõ bản chất giai cấp thực sự của Cách mạng Tháng Tám cũng như cuộc chiến tranh chống đế quốc cứu nước. Để làm điều đó, bài viết dựa trên hai loại nguồn: nguồn sử liệu trực tiếp từ thời kỳ đó, và chính nguồn của Đảng Cộng sản Việt Nam – bởi dù không muốn, chính Đảng cũng buộc phải thừa nhận sự tồn tại của những người Trotskyist trong các văn kiện của mình.

I. Bối cảnh trước Cách mạng Tháng Tám

Chúng ta không thể hiểu Cách mạng Tháng Tám nếu tách nó ra khỏi bối cảnh Thế chiến II và phong trào cộng sản quốc tế đương thời.

Ở Việt Nam, thực dân Pháp cai trị đất nước cho đến khi chính phủ Pháp đầu hàng Hitler và dựng lên chính phủ bù nhìn Vichy; từ đó, phát xít Nhật từng bước thế chỗ Pháp trong việc kiểm soát Đông Dương. Suốt những năm trước đó, đặc biệt là từ thập niên 1930, phong trào công nhân và nông dân tự phát đã nổ ra dày đặc trên khắp cả nước, tạo thành một mạch đấu tranh giai cấp liên tục. Song song với nó là các phong trào yêu nước mang đủ hình hài khác nhau: từ khuynh hướng tư sản cải cách của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, cho đến những phong trào mang màu sắc tôn giáo – chính trị huyền bí như Cao Đài, Hoà Hảo.

Trên bình diện quốc tế, bối cảnh quan trọng nhất là sự trỗi dậy của tầng lớp quan liêu Stalin bên trong phong trào cộng sản, hệ quả của sự cô lập cuộc Cách mạng Tháng Mười, của tình trạng lạc hậu của nước Nga Xô Viết, và của cái chết của Lenin. Quan liêu không phải là một giai cấp; nó là một bộ phận ký sinh nắm lấy quyền lực nhà nước trong lúc cách mạng lâm vào bế tắc, và từ vị trí đó, nó ngăn cản chính công nhân và nông dân tham gia một cách dân chủ vào sản xuất và chính trị. Bởi bản chất của nó là lợi ích của một nhóm cầm quyền chứ không phải lợi ích giai cấp, tầng lớp quan liêu này hành xử một cách zigzag khó lường, kể cả trong quan hệ với Hitler, và sẵn sàng dựa vào bất kỳ giai cấp nào, miễn là giữ được quyền lực trong tay.

Nó không còn thực sự quan tâm đến cách mạng vô sản thế giới, mà chỉ quan tâm đến việc nắm giữ và mở rộng quyền lực của chính mình, điều được thể chế hoá thành học thuyết “chủ nghĩa xã hội trong một nước”, thực chất là một thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi khoác áo cách mạng. Nó ủng hộ các đảng cộng sản khi điều đó giúp nó tránh bị cô lập trên trường quốc tế, nhưng sẵn sàng thoả hiệp với chính đế quốc khi cần: giải tán Quốc tế Cộng sản (Đệ Tam) vào năm 1943 để làm vừa lòng các đồng minh phương Tây, rồi sau đó ủng hộ việc thành lập nhà nước Israel vào năm 1948. Nó không hề muốn nhìn thấy một cuộc cách mạng vô sản thực sự thành công ở bất kỳ đâu, vì một cuộc cách mạng như vậy sẽ tự vạch trần sự phản bội của chính nó, và trở thành tấm gương cổ vũ cho giai cấp vô sản Liên Xô đứng lên đòi lại quyền lực. Nó chỉ ủng hộ những mô hình quan liêu giống mình, những mô hình mà cũng sẽ bị xé lẻ bởi chính thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi ấy, như những gì đã xảy ra trong quan hệ giữa Liên Xô với Trung Quốc hay với Nam Tư sau này.

Nhận ra bản chất phản cách mạng của tầng lớp quan liêu này, Trotsky, một trong những nhà lãnh đạo chính của cuộc Cách Mạng tháng 10 và người tổ chức Hồng Quân, đã đứng ra lập phe tả đối lập trong nội bộ đảng Bolshevik để đấu tranh chống lại nó. Họ đã phải trả giá bằng một cuộc đàn áp khủng khiếp, cùng chung số phận bị giết hại dưới tay những người Stalinist như nhiều đồng chí của ông. Cuộc đấu tranh đó ban đầu diễn ra trong nội bộ Liên Xô và trong nội bộ Quốc tế Cộng sản, nhưng vì bị Stalin thống trị hoàn toàn, Quốc tế Cộng sản đã đi hết từ sai lầm này đến sai lầm khác, cho tới ngày tự giải thể. Ảnh hưởng của Quốc tế Cộng sản dưới thời Stalin, vì thế, đã để lại một di sản vô cùng tiêu cực lên chính Đảng Cộng sản Việt Nam sau này. Để tiện phân biệt với phe Đối Lập Tả của Trotsky, bài viết này sẽ gọi những đảng và nhóm thuộc Đệ Tam, hoặc ủng hộ chủ nghĩa Stalin, là những người “Stalinist.”

II. Sự hình thành song song của hai phong trào: Đảng Cộng sản và những người Trotskyist Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam lớn lên dưới cái bóng của chủ nghĩa Stalin. Lịch sử cơ bản của nó là thứ được phổ biến cho mọi người Việt qua giáo dục phổ thông cũng như tuyên truyền, văn hoá, là trang lịch sử chắc hẳn bạn đọc đã có phần quen thuộc. Những người sáng lập nó là những thanh niên yêu nước, những trí thức đã tiếp xúc với phong trào cộng sản quốc tế ngay từ khi còn ở nước ngoài – trường hợp tiêu biểu nhất là Hồ Chí Minh, người đến với chủ nghĩa cộng sản qua cánh cửa của Đảng Cộng sản Pháp. Phong trào Trotskyist ở Việt Nam có một xuất phát điểm tương tự, nhưng khác ở một điểm cốt yếu: nó không có được sự hậu thuẫn từ Liên Xô, mà ngược lại, dần dần trở thành đối tượng bị chính bộ máy đó săn lùng.

Điều đáng chú ý là, dù về sau mâu thuẫn Stalin–Trotsky sẽ trở nên đẫm máu, ở Việt Nam thời kỳ đầu, quan hệ giữa hai phe không hề gay gắt – thậm chí còn có không ít sự hợp tác. Số báo Phụ nữ tân văn ra ngày 3 tháng 7 năm 1930 đã ghi lại một cuộc biểu tình tại điện Élysée ở Paris, nơi cả những người Trotskyist lẫn những người theo đường lối Xô Viết cùng tham gia:

“Truyền đơn của hai đảng cộng sản An Nam; một là đảng Trotsky, là đảng cực tả; hai là đảng sô viết [ý chỉ thành phần sau này trở thành ĐCS VN], đều là tỏ cái tình hình Đông dương… Mấy tháng nay các đảng viên cộng sản Annam thường có truyền đơn nói về việc Đông Dương; nhóm nhiều cuộc biểu tình để phản kháng các án xử tử đã nói trên; và sau hết có tổ chức ra một cái Ủy hội phấn đấu. Ủy hội trước ngày biểu tình ở điện Elysée có mời đảng viên của phái Trotsky. Phái nầy có đến, và có hứa sẻ hiệp nhau lại đi phát biểu. Annam về đảng Trotsky vận động hăng hái lắm. Bọn nầy học thức rộng, am hiểu tiếng Pháp và tiếng Nam, rất sành về việc tổ chức. Thế lực của họ khá lớn, cho nên hai tờ báo cộng sản cực tả ở đây là báo Vérité và Lutte des classes, dễ cho họ có một địa vị lớn trong sự ngôn luận.”

(Nguồn: Thư viện Quốc gia trực tuyến, trang 11-12 http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=HtCq19300703.2.13&e=——-vi-20–1–img-txIN——#)

Đoạn tư liệu ngắn ngủi này cho thấy hai điều quan trọng: những người Trotskyist đã có mặt trong phong trào cộng sản Việt Nam ngay từ những ngày đầu tiên, chứ không phải một nhánh ly khai xuất hiện muộn về sau; và họ đã có một ảnh hưởng đáng kể, đủ để các nhóm Stalinist chủ động mời họ tham gia hoạt động chung.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức ra đời. Một năm sau, Tạ Thu Thâu trở về Nam Kỳ và thành lập nhóm Trotskyist đầu tiên ở Việt Nam, với ảnh hưởng mạnh nhất ở Nam Kỳ nhưng cũng có những hoạt động rải rác ở miền Bắc. Bản thân phong trào Trotskyist Việt Nam cũng chưa bao giờ là một khối thống nhất: có nhóm hoạt động công khai, cởi mở như nhóm Tranh Đấu, và có những nhóm hoạt động bí mật hơn như Liên đoàn Cộng sản Quốc tế hay nhóm Tháng Mười.

Giai đoạn 1930–1931 là một trong những đỉnh cao của đấu tranh giai cấp ở Việt Nam, với đỉnh điểm là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Ngay trong bầu không khí sục sôi đó, năm 1931, nhóm Trotskyist trong miền Nam đã bắt tay hợp tác với những người Stalinist trong Đảng Cộng sản Việt Nam – cụ thể là Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Tạo – để cùng sáng lập và xuất bản tờ báo La Lutte (Tranh Đấu). Họ dùng tờ báo này làm nền tảng cho các hoạt động hợp pháp, lập ra “Sổ lao động” để cùng tranh cử vào Hội đồng Thành phố Sài Gòn, và cả hai phe đều giành được ghế. Đây là một mặt trận thống nhất hiếm có giữa những người Stalinist và Trotskyist, không chỉ ở Việt Nam mà hiếm có trên phạm vi thế giới vào thời điểm đó. Đường lối của La Lutte khi ấy khá ôn hoà, thậm chí có phần quá thận trọng khi chủ trương không công kích lẫn nhau:

“Kiên quyết đấu tranh chống chính quyền thuộc địa và các đồng minh lập hiến của nó, ủng hộ quyền lợi công nông mà không phân biệt họ thuộc phái nào, phổ biến tư tưởng Marx cổ điển, và từ bỏ mọi công kích Liên Xô cũng như bất kỳ phe phái nào chống lại cả hai nhóm quốc tế vô sản hiện nay.”

Sự hợp tác ở Nam Kỳ không phải lúc nào cũng suôn sẻ, nhưng nhìn chung đã mang lại một số kết quả đáng kể, chủ yếu trên ba mặt trận: tuyên truyền, lãnh đạo đình công và một số phong trào quần chúng (theo hồi ký của Ngô Văn [1]), và đấu tranh nghị trường thông qua bầu cử. Chính tờ Ngày Nay, số 162 ra ngày 20 tháng 5 năm 1939, cũng đã ghi nhận sức hút của tờ La Lutte trong bài viết “Tình hình chính trị miền Nam” của Trần Văn Lai:

“Quần chúng bị đảng Lập-hiến phỉnh lừa bây giờ đã chán nản, vừa nghe có nhóm Tranh Đấu ra đời với tờ tuần báo La Lutte, một tờ báo ‘dám nói’ hơn hết, nên họ đua nhau theo ủng hộ. Nhờ thế mà Thâu, Thạch, Tạo, Mai được đưa vào hội đồng thành phố. Nhóm Tranh Đấu rồi cũng tự chia rẽ làm hai: thêm nhóm Dân chúng [phe Stalinist, ĐCSVN]. Tuy vậy trong thời kỳ nước Pháp do thủ tướng xã-hội Léon Blum cầm quyền, bên này, hai nhóm Tranh đấu và Dân chúng lại hợp tác gây nên phong trào Đông-dương đại hội mục đích để thâu nhặt những nguyên vọng rải rác của các sắc dân trong nước, góp lại thảo thành một bản yêu sách chung để đưa lên Uỷ ban điều tra thuộc-địa mà người ta tưởng sắp qua xứ này.”

(Nguồn: Thư viện Quốc gia trực tuyến, trang 15 http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=Hxsu19390520.1.6&e=——-vi-20–1–img-txIN——#)

Sự hợp tác này không kéo dài mãi. Năm 1936 đánh dấu một bước ngoặt, khi chính phủ Mặt trận Bình dân mang danh “xã hội chủ nghĩa” lên cầm quyền tại Pháp. Trước biến động đó, Đảng Cộng sản Việt Nam chuyển trọng tâm từ chống đế quốc Pháp sang chủ trương “chống phát xít” là chính. Rồi từ sau năm 1937, theo chỉ thị trực tiếp từ Stalin, Đảng Cộng sản Việt Nam buộc phải chấm dứt hợp tác và quay sang bài trừ Trotskyist bằng mọi giá, mặc dù ban đầu, không ít cán bộ và đảng viên Stalinist ở cả hai miền Nam, Bắc đã do dự, thậm chí phản đối chủ trương này. Phải đến năm 1938, toàn bộ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam mới thực sự rút hết khỏi nhóm Tranh Đấu, và hai bên bắt đầu công khai công kích lẫn nhau trên báo chí.

Trớ trêu thay, chính vào thời điểm rạn nứt ấy, năm 1939, nhóm Đệ Tứ lại giành được một thắng lợi bầu cử vang dội ở Nam Kỳ, trong khi Đệ Tam thất bại. Nhóm Đệ Tứ giành ba ghế trong cuộc bầu cử ngày 30 tháng 4, và ngày 18 tháng 5 đã gửi thư báo tin chiến thắng cho chính Trotsky. Ở vòng bầu cử đầu tiên, đối đầu với đảng cực hữu mang tên “Trạng sư”, sổ Tranh Đấu chỉ thua sát nút 202 phiếu. Đến vòng hai, dù sổ “Mặt trận Dân chủ” [phe Stalinist] đã cố tình đưa thêm người ra tranh cử để chia phiếu, sổ Tranh Đấu vẫn thắng áp đảo tại quận nhì.

Đây là một thất bại nặng nề đến mức chính Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không thể phủ nhận. Trong một bài viết đăng trên Tạp chí Cộng sản – cơ quan lý luận chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng – có đoạn thừa nhận:

“Tuy vậy, trong bầu cử Hội đồng quản hạt Nam Kỳ, người của Mặt trận Dân chủ đã không thành công. Một số đồng chí đã coi nhẹ công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, hợp tác vô nguyên tắc với các phần tử Trotskyist và với những khẩu hiệu lừa bịp, các phần tử Trotskyist đã lôi kéo được quần chúng bỏ phiếu cho họ. Đó là khuyết điểm và là bài học trong sự lãnh đạo của Đảng. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã chỉ rõ vấn đề đó trong tác phẩm Tự chỉ trích (tháng 7 – 1939): ‘Sau cuộc tuyển cử Hội đồng quản hạt, các lớp nhân dân có quan tâm đến thời cuộc trong xứ đều đương bàn luận về kết quả cuộc tuyển cử, về những nguyên nhân đã làm cho sổ Mặt trận dân chủ của nhóm Dân chúng đưa ra bị thất bại, còn sổ Trotskyist: Thâu, Hùm, Thạch, được đắc cử ở quận nhì.'”

(Nguồn: “Đấu tranh chống thế lực tơ-rốt-xkít bảo vệ đường lối của Đảng (1930 -1945) và bài học cho đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy hiện nay” của tác giả Nguyễn Trọng Phúc, Tạp Chí Cộng Sản, ngày 17/8/2019 https://www.tapchicongsan.org.vn/en/tin-dau-tranh-phan-bac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/-/asset_publisher/s5L7xhQiJeKe/content/-au-tranh-chong-the-luc-to-rot-xkit-bao-ve-uong-loi-cua-ang-1930-1945-va-bai-hoc-cho-au-tranh-chong-chu-nghia-co-hoi-chu-nghia-dan-tuy-hien-nay )

Ngay cả một cơ quan lý luận trung ương của Đảng cũng phải công nhận: ảnh hưởng của những người Trotskyist là có thật, và ở một số khu vực, một số thời điểm, còn mạnh hơn cả Đảng Cộng sản Việt Nam. Kể từ sau thất bại năm 1939 này, việc bài trừ, chỉ điểm và tấn công những người Trotskyist trở thành một ưu tiên hàng đầu trong nội bộ Đảng – và cũng chính từ năm này mà phần lớn những phát ngôn công kích Trotskyist được ghi nhận là của Hồ Chí Minh xuất hiện.

Nhưng có một lý do chính trị cho thất bại của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1939 mà hiếm khi được nhắc tới: đó là hậu quả trực tiếp của việc Đảng đã ủng hộ chính phủ Mặt trận Bình dân của Léon Blum tại Pháp. Chính phủ ấy, dù tự nhận là một mặt trận chống phát xít và được Liên Xô hậu thuẫn, trên thực tế vẫn duy trì gần như nguyên vẹn bộ máy cai trị thuộc địa, chỉ thêm vào đó vài cải cách không đáng kể. Ngay từ đầu năm 1936, những người trong nhóm Tranh Đấu, đặc biệt là Tạ Thu Thâu, đã kịch liệt phản đối việc ủng hộ chính quyền này, vì họ nhìn thấu bản chất thoả hiệp giai cấp đằng sau cái vỏ bọc “cấp tiến” của nó. Đảng Cộng sản Việt Nam thì ngược lại: vì Liên Xô ủng hộ chính phủ Blum, Đảng này nghe theo, gọi đó là một chính phủ “cấp tiến” và không hề công khai chỉ trích những chính sách thuộc địa mà chính phủ ấy vẫn duy trì [2]. Đó chính là lý do khiến Đảng đánh mất niềm tin của quần chúng vào tay những người Trotskyist. Đây cũng là một đỉnh điểm khác của đấu tranh giai cấp ở Việt Nam – lần đầu tiên xuất hiện tình trạng công nhân chiếm đóng nhà máy, cùng những làn sóng đình công lan rộng khắp Nam Kỳ, mà theo Ngô Văn, chính những người Trotskyist mới là lực lượng có ảnh hưởng lớn nhất trong các phong trào này, vượt qua cả Đảng Cộng sản Việt Nam [3].

Thắng lợi ấy không kéo dài được lâu. Ngay sau năm 1939, cảnh sát Pháp mở một chiến dịch truy quét quy mô lớn nhắm vào hầu hết các thành viên nhóm Đệ Tứ, bắt giam phần lớn trong số họ; riêng Tạ Thu Thâu bị đày ra Côn Đảo. Từ đó, hoạt động của phong trào Trotskyist gần như tê liệt, và phải đến năm 1944, khi các thành viên chủ chốt được ra tù, phong trào mới có thể hoạt động mạnh mẽ trở lại. Trong khi đó, những người Stalinist lại được chính quyền Pháp khoan hồng, chính vì đã từng ủng hộ chính phủ Mặt trận Bình dân. Chỉ đến năm 1939, khi Hiệp ước Molotov–Ribbentrop được ký kết, đường lối của họ mới chuyển hẳn sang chống Pháp. Nhờ sự vắng bóng gần như hoàn toàn của đối thủ Trotskyist trong giai đoạn này, cùng với lập trường chống đế quốc rõ ràng hơn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ ngày càng mạnh mẽ từ quần chúng.

Bước sang đầu năm 1945, phong trào quần chúng lại lên tới một đỉnh cao mới, lần này là phản ứng trước sự đàn áp và bóc lột tàn bạo của quân đội Nhật chiếm đóng. Tháng 3 năm 1945, Nhật lật đổ chính quyền Pháp tại Đông Dương và dựng lên chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Vào thời điểm đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có lực lượng mạnh trên khắp cả nước, còn phong trào Trotskyist vẫn duy trì ảnh hưởng đáng kể ở Nam Kỳ dù yếu hơn nhiều ở Bắc Kỳ. Trong khi đó, quân đội Nhật ở những nơi như Sài Gòn gần như không còn khả năng kháng cự, báo hiệu một thất bại đã cận kề. Thời cơ cách mạng đang đến gần.

III. Cách mạng Tháng Tám: những gì đã thực sự diễn ra trong các năm 1945–46

Khi Thế chiến II kết thúc, các cường quốc Đồng Minh bắt đầu phân chia vùng ảnh hưởng trên khắp thế giới, và Liên Xô – dù mang danh nghĩa lãnh đạo phong trào chống đế quốc – đã chấp nhận tham gia vào cuộc phân chia đó, kể cả với vấn đề Đông Dương. Tại Hội nghị Potsdam, Stalin tỏ ra hoàn toàn thờ ơ với số phận của Đông Dương, để mặc cho quân đội các nước Đồng Minh là Anh, Mỹ và Trung Hoa Dân Quốc đảm nhiệm việc “áp giải quân Nhật” ra khỏi khu vực. Trên danh nghĩa là vậy, nhưng mục tiêu thực sự rõ như ban ngày của quân Tưởng khi tiến vào miền Bắc lại là “diệt cộng, bắt Hồ”, trong khi quân Pháp nhân cơ hội đó quay trở lại từ phía Nam. Bản thân Stalin cũng không mấy tin tưởng Hồ Chí Minh và Việt Minh – có nguồn cho rằng chính vì Hồ Chí Minh đã tỏ ra quá thân thiện với Mỹ, quá sẵn sàng hoà hoãn để tranh thủ cảm tình của Washington nhằm ngăn Mỹ ngả về phía Pháp, thay vì ngoan ngoãn đi theo đường lối do Moscow vạch sẵn. Hậu quả là phải đến tận năm 1950 – 5 năm sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công – Liên Xô mới chính thức công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nói cách khác, Stalin đã công nhận nhà nước Israel trước cả khi công nhận nhà nước Việt Nam.

Chính sự thờ ơ và thoả hiệp mang tính toàn cầu ấy của chủ nghĩa Stalin phần nào giúp lý giải vì sao Hồ Chí Minh lại càng có xu hướng tìm cách thoả hiệp với phương Tây. Trong lúc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn ráo riết chuẩn bị cho ngày tổng khởi nghĩa, dựa trên một đường lối lý luận cụ thể. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định:

“Cần phải thay đổi chiến lược” và giải thích: “Cuộc cách mạng ở Đông Dương hiện tại không phải là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là một cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp ‘dân tộc giải phóng.'”

(Nguồn: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 118–119, trích theo ussh.vnu.edu.vn)

Nói cách khác, đường lối chính thức của Đảng là: phải hoàn thành cách mạng dân tộc trước, rồi mới đến cách mạng ruộng đất, còn cách mạng xã hội chủ nghĩa thì vẫn còn xa vời phía trước. Đây chính là dấu ấn của học thuyết “hai giai đoạn”, chịu ảnh hưởng từ kịch bản đã lặp lại bao lần của quốc tế Đệ Tam và quan niệm của Mao Trạch Đông về “mâu thuẫn chủ yếu” và “mâu thuẫn thứ yếu”: phải làm cách mạng dân tộc, cách mạng dân chủ tư sản trước, rồi mới tính đến bước tiếp theo. Trong khi đó, những người Trotskyist lại chỉ ra rằng ở một nước thuộc địa, cách mạng dân chủ tư sản, kể cả nhiệm vụ giải phóng dân tộc chỉ có thể được hoàn thành bởi chính giai cấp vô sản và nông dân, thông qua một quá trình cách mạng đi thẳng từ những nhiệm vụ dân chủ tư sản sang các chính sách vô sản, mà không dừng lại ở giai đoạn trung gian nào. Đây là điều mà Trotsky gọi là cách mạng thường trực. Chính sự khác biệt lý luận này, có mặt ngay từ ngày hai phong trào mới hình thành, đã trở thành lý do sâu xa khiến mâu thuẫn giữa họ kết thúc trong máu, khi những người Trotskyist công khai bất đồng với thái độ hoà hoãn và cả những đe doạ mà phe Stalinist đưa ra trong chính cuộc Cách mạng Tháng Tám.

Trên thực tế, cuộc tổng tuyển cử do Việt Minh phát động đã diễn ra và thành công trên cả nước, từ ngày 13 đến ngày 28 tháng 8 năm 1945, dẫn tới sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và sau đó là Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Nhưng cách chính quyền non trẻ này được xây dựng, và cách nó vận hành trong năm đầu tiên, mới thực sự bộc lộ bản chất của cuộc cách mạng.

Ngay từ đầu, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã là một chính phủ liên minh giai cấp, có sự tham gia của cả các thành phần tư sản – bên cạnh Đảng Cộng sản Đông Dương còn có Đảng Dân chủ Việt Nam, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội, và nhiều cá nhân, nhóm không đảng phái khác. Để chứng tỏ “thiện chí” trong liên minh này, từ tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam thậm chí tự tuyên bố giải tán để chuyển sang hoạt động bí mật, rồi từ năm 1946 lại mở rộng cửa cho thêm nhiều thành viên đến từ các nhóm chính trị ngoài mặt trận Việt Minh. Điều đáng lưu ý là trong cuộc tổng tuyển cử năm 1946, dù có sự tham gia của nhiều đảng phái ngoài Việt Minh, lại hoàn toàn không có bóng dáng của những người Trotskyist vì phần lớn trong số họ đã bị sát hại ngay trong giai đoạn Đảng Cộng sản Việt Nam củng cố quyền lực từ năm 1945.

Trớ trêu là những đảng phái tư sản khác được phép tham gia, như Việt Nam Quốc dân Đảng, vốn dựa vào quân Tưởng Giới Thạch, một thế lực thù địch ở phía Trung Quốc, hay Việt Cách, Việt Quốc lại đều dính líu sâu sắc với các thế lực đế quốc. Các đảng này sau đó liên tục có những động thái gây chia rẽ, khủng bố, thậm chí tìm cách đảo chính để cướp chính quyền từ tay Việt Minh, và không ngần ngại hợp tác với cả Trung Hoa Dân Quốc lẫn quân Pháp. Chính vì vậy mà Võ Nguyên Giáp đã buộc phải ra tay trừ khử các phe đảng đối lập này. Liên minh giai cấp ban đầu, dù vẫn tồn tại trên danh nghĩa qua ba chính phủ khác nhau trong đó có Chính phủ Liên hiệp Quốc dân thành lập tháng 3 năm 1946 thực chất đã tan rã ngay từ trong trứng nước, và phải đến năm 1955 các thành phần tư sản tàn dư mới bị loại hẳn khỏi bộ máy chính quyền. Toàn bộ diễn biến này cho thấy một điều: liên minh giai cấp với tư sản dân tộc là điều bất khả thi, bởi tư sản luôn sẵn sàng phản bội khi có cơ hội và chính sự chia rẽ ấy đã làm suy yếu phong trào cách mạng, đặt thêm gánh nặng lên vai Việt Minh trong quá trình chuẩn bị kháng chiến.

Về mặt quân sự và kháng chiến, câu hỏi cần đặt ra là: từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công cho đến khi chiến tranh với Pháp bùng nổ vào cuối năm 1946, Việt Minh đã thực sự làm gì? Câu trả lời là: từ chối vũ trang quần chúng ngay khi quân Đồng Minh quay trở lại, và ký liên tiếp hai hiệp ước với Pháp trong năm 1946 – Hiệp ước Sơ bộ vào tháng 3, rồi Tạm ước Việt–Pháp vào tháng 9. Với Hiệp ước Sơ bộ, lý do được đưa ra là “đánh đổi 20.000 quân Tưởng lấy 10.000 quân Pháp, để có thời gian chuẩn bị kháng chiến lâu dài”. Nhưng cần nhớ rằng, chính sự có mặt của quân Tưởng ở miền Bắc là hệ quả trực tiếp của việc Việt Minh đã chấp nhận sự phân chia vùng ảnh hưởng do phe Đồng Minh áp đặt, thay vì chọn con đường đấu tranh ngay từ đầu. Và nếu đã biết rõ mối nguy hiểm từ quân Tưởng, thì càng khó lý giải vì sao Việt Minh lại chấp nhận đưa cả Việt Nam Quốc dân Đảng vào chính phủ liên hiệp, để rồi chính lực lượng này quay ra chống phá từ bên trong.

Trong khi giới lãnh đạo lựa chọn con đường thoả hiệp, quần chúng lại cho thấy khát vọng đấu tranh. Khi quân Tưởng tiến vào miền Bắc, nhiều đơn vị Việt Minh cùng quần chúng đã kịch liệt phản đối và tự động cầm súng chống lại. Ở Nam Kỳ, vào tháng 8 và tháng 9 năm 1945, khi quân Anh, quân Tưởng và quân Pháp lần lượt quay trở lại, quần chúng cũng tự đứng lên chiến đấu rất quyết liệt. Theo hồi ký của Ngô Văn, nông dân ở khắp sáu quận đã tự động đi lấy lại đất từ tay địa chủ, đúng như những gì Đảng Cộng sản Việt Nam từng hứa hẹn trong cương lĩnh của mình. Thế nhưng, thay vì ủng hộ, Đảng lại đàn áp và cấm đoán chính hành động ấy, với lý lẽ rằng đây mới chỉ là giai đoạn “cách mạng dân chủ tư sản”, chưa phải lúc để tiến hành những chính sách mang tính vô sản. Lo sợ quần chúng đi quá xa và làm hỏng khả năng đàm phán, Trần Văn Giàu ở Sài Gòn kiên quyết không cho phép vũ trang quần chúng, và chỉ đến cuối tháng 9 mới đưa ra lời kêu gọi kháng chiến – nhưng đó là sau khi ông đã đích thân mở cửa đón tướng Anh Gracey vào khôi phục trật tự tại Sài Gòn. Việt Minh, dù đã khởi nghĩa thành công ở đó, cuối cùng lại giao trả quyền lực cho đế quốc, chỉ giữ lại một phần nhỏ vũ khí cho riêng mình.

Đỉnh điểm của xu hướng thoả hiệp này là thoả thuận ngày 6 tháng 3 năm 1946, cho phép quân đội Pháp trở lại đóng quân tại Việt Nam, đổi lấy việc Pháp công nhận Việt Nam là một “quốc gia tự do” trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp. Trong khi đó, vấn đề thống nhất đất nước, vốn đã bị chia cắt, lại bị gác sang một cuộc trưng cầu dân ý mơ hồ trong tương lai (một điều khoản mà chính người Pháp cũng ủng hộ, vì nó có lợi cho họ). Tại một cuộc mít tinh ở Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biện minh cho thoả thuận này bằng cách so sánh nó với Hiệp ước Brest-Litovsk mà những người Bolshevik từng ký với Đức (buồn cười thay, hiệp ước này được đàm phán bởi Trotsky!), coi đó là một bước lùi chiến thuật để tích luỹ sức mạnh cho những cuộc đấu tranh về sau [4]. Nhưng phép so sánh này bỏ qua một khác biệt căn bản:

“Hiệp ước Brest-Litovsk được ký bởi những người cách mạng vẫn đang tích cực hành động vì thắng lợi của cách mạng Đức, đồng thời huy động Hồng quân và giai cấp công nhân Nga đứng lên chống lại các thế lực đế quốc xâm lược. Còn hiệp ước với Pháp năm 1946 lại được ký bởi những người Stalinist, những người công khai theo đuổi một sự dàn xếp với chính chủ nghĩa đế quốc – và thay vì tổ chức công nhân cách mạng để bảo vệ tài sản công hữu, họ lại đe doạ tử hình những nông dân dám lấy lại đất từ tay tư sản, địa chủ, rồi thực thi những bản án ấy một cách tàn nhẫn nhất đối với chính những người Trotskyist”. [5]

Điều đó dẫn đến một nghịch lý cần được nhìn thẳng: dù sẵn sàng nhân nhượng Pháp đến mức ký liền hai, ba hiệp ước, dù sẵn sàng tự giải tán để lập một mặt trận dân chủ chung với cả tư sản, Đảng Cộng sản Việt Nam lại kiên quyết từ chối mọi hợp tác với những người Trotskyist, thậm chí ra tay giết hại họ. Lý do nằm ở chỗ: ngay từ đầu, đảng này chưa bao giờ có ý định để giai cấp công nhân thực sự nắm quyền, bởi nó được xây dựng theo đúng mô hình quan liêu kiểu Stalin. Nó đặt cược vào những nước cờ đàm phán, những thủ đoạn chính trị khéo léo, và việc dựa vào bất kỳ giai cấp nào có thể giúp nó lên nắm quyền. Nó không muốn ngay lập tức dựa hẳn vào quần chúng vũ trang để đánh đuổi toàn bộ các thế lực đế quốc cùng một lúc, dù rốt cuộc, lịch sử cũng buộc nó phải đi đến bước đó.

Thay vì tận dụng thời cơ để vũ trang quần chúng, ngăn không cho quân Đồng Minh và quân Tưởng có đủ thời gian đổ bộ, Đảng lại tước vũ khí khỏi tay quần chúng và kiên nhẫn chờ đợi một thoả thuận với đế quốc. Gần một tháng, tính từ thời điểm Tuyên ngôn Độc lập được đọc lên – thậm chí còn sớm hơn, từ khi quân Nhật vừa đầu hàng – cho tới lúc bước vào đàm phán ở Pháp rồi cuối cùng là chiến tranh, là cả một khoảng thời gian quý giá đã bị bỏ lỡ.

Trong khi đó, những người Trotskyist đã làm gì kể từ năm 1945? Dù lực lượng nhỏ bé và không có bất kỳ hậu thuẫn nào từ bên ngoài, họ vẫn kiên trì giương cao những khẩu hiệu triệt để: chia ruộng đất cho dân cày, vũ trang toàn bộ quần chúng, đánh đuổi quân đội đế quốc ngay lập tức, giành lấy chính quyền mà không thoả hiệp. Họ thậm chí còn chủ động đề nghị lập một mặt trận thống nhất mới với Việt Minh, nhưng lời đề nghị ấy không được đáp lại – thay vào đó, họ bị săn đuổi và giết hại. Chỉ một số ít may mắn lưu vong sang Pháp hoặc ra nước ngoài mới sống sót.

Cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa từng chính thức nhận trách nhiệm cho những cuộc giết hại đó, đặc biệt là vụ xử tử Tạ Thu Thâu. Hồ Chí Minh từng có một câu nói nổi tiếng về ông: “Tạ Thu Thâu là một đồng chí tốt và chúng ta tiếc thương ông ấy, nhưng những người không đi theo đường lối của tôi sẽ bị nghiền nát.”

IV. Vậy tính chất giai cấp thực sự của Cách mạng Tháng Tám là gì?

Nguồn tin ‘chính thống’ của nhà nước hiện nay mô tả sự kiện này như sau:

“Việc chiến thắng các thế lực xâm lược đất nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân có thể có nhiều con đường để thực hiện và giành thắng lợi. Tuy nhiên, cách mạng giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản là cuộc cách mạng giải phóng triệt để nhất, cuộc cách mạng đó tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, bền vững cho quá trình đi lên của mỗi quốc gia.”

“Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới chứ không như các cuộc cách mạng dân chủ tư sản trước đây. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã lật đổ ách thống trị thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị phong kiến tay sai và ách thống trị của chủ nghĩa phát xít Nhật (1941-1945), đưa dân tộc Việt Nam bước vào thời đại mới – thời đại độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.”

(Nguồn: Ban Nội Chính Trung Ương https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/202309/cach-mang-thang-tam-nam-1945-gia-tri-lan-toa-quoc-te-va-y-nghia-doi-voi-viec-khoi-day-phat-trien-dat-nuoc-theo-nghi-quyet-dai-hoi-xiii-cua-dang-312930/)

Theo cách diễn giải chính thống này, Cách mạng Tháng Tám là một cuộc cách mạng dân chủ tư sản, và việc “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” chỉ đơn giản là vì chủ nghĩa xã hội mới là con đường giải phóng con người một cách trọn vẹn nhất. Về vế sau, có thể đồng tình. Nhưng câu hỏi thực sự đáng đặt ra nằm ở cụm từ “kiểu mới”: một cuộc cách mạng dân chủ tư sản “kiểu mới” thì khác gì so với những cuộc cách mạng dân chủ tư sản kinh điển?

Để trả lời câu hỏi đó một cách nghiêm túc, không thể chỉ dừng lại ở việc mô tả bề nổi của sự kiện, hay coi cách diễn giải của Đảng Cộng sản Việt Nam là chân lý mặc định. Cần phải nhìn sự kiện như một quá trình, đặt nó trong toàn bộ bối cảnh chính trị thế giới và lịch sử đấu tranh giai cấp của phong trào vô sản quốc tế. Và câu hỏi cốt lõi cần được đặt ra là: bản chất giai cấp của một cuộc cách mạng thực sự được quyết định bởi điều gì?

Theo phân tích duy vật lịch sử của Marx, lịch sử xã hội loài người là lịch sử của đấu tranh giai cấp, trong đó mỗi cuộc cách mạng là một bước nhảy, xảy ra khi phương thức sản xuất cũ không còn phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và buộc phải nhường chỗ cho một phương thức sản xuất mới. Bản chất của một cuộc cách mạng, vì thế, không nằm ở khẩu hiệu hay ý định chủ quan của những người lãnh đạo nó, mà nằm ở những hành động kinh tế – xã hội cụ thể mà nó thực thi trên thực tế. Cách mạng dân chủ tư sản điển hình, như ở Anh hay Pháp, đã thay thế chế độ phong kiến bằng thể chế tư bản: thống nhất các vùng lãnh thổ và dân tộc thành một quốc gia có nhà nước trung ương thống nhất, xác lập chế độ sở hữu tư hữu, tiến hành cải cách ruộng đất để giải phóng lao động phục vụ sản xuất hàng hoá, và dựng lên một nhà nước cộng hoà thay cho nền quân chủ chuyên chế của vua chúa, quý tộc. Ở mỗi giai đoạn lịch sử như vậy, chủ thể thực hiện cuộc cách mạng luôn là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất mới của thời đại đó: giai cấp tư sản đóng vai trò chủ thể cách mạng trong thời đại lật đổ phong kiến, còn giai cấp vô sản đóng vai trò ấy trong thời đại lật đổ chủ nghĩa tư bản.

Nhưng ở một nước thuộc địa, bức tranh này phức tạp hơn nhiều. Quá trình thuộc địa hoá diễn ra đúng vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản thế giới đã bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, nghĩa là khi lực lượng sản xuất tư bản đã phát triển đến một mức độ nhất định, và mâu thuẫn giai cấp trong lòng nó cũng đã trở nên gay gắt. Trong bối cảnh đó, giai cấp tư sản bản địa ở các thuộc địa vừa nhỏ yếu vừa hoàn toàn lệ thuộc: nó hoặc gắn chặt lợi ích với tư bản đế quốc, hoặc bị chính tư bản đế quốc thâu tóm và biến thành công cụ cai trị quần chúng, hoặc bị cạnh tranh chèn ép đến mức không thể ngóc đầu lên. Giai cấp tư sản thuộc địa, vì vậy, không chỉ thiếu tiềm lực để làm cách mạng, mà về bản chất còn gắn liền với chính lợi ích phản động của đế quốc. Nguyên nhân sâu xa là chủ nghĩa tư bản đế quốc đã tự mình làm thay một phần công việc lẽ ra thuộc về một cuộc cách mạng tư sản: nó đã du nhập một phần quan hệ sản xuất tư bản, quan hệ hàng hoá và chế độ sở hữu tư hữu, dù vô cùng hạn chế, vì tất cả chỉ nhằm phục vụ nhu cầu của chính quốc chứ không phải nhu cầu phát triển của bản địa, đồng thời đã đánh đổ và thay thế hoàn toàn tầng lớp vua chúa phong kiến trong việc cai trị. Kết quả là giai cấp tư sản dân tộc ở thuộc địa vừa không còn động lực, vừa không còn khả năng để đứng ra làm cách mạng. Đây chính là mấu chốt trong lý thuyết cách mạng thường trực của Trotsky.

Áp dụng vào trường hợp Việt Nam, điều này lý giải trực tiếp sự thất bại liên tiếp của các phong trào theo khuynh hướng tư sản: từ Phan Bội Châu, đến các phong trào thân Nhật, hay những phong trào yêu nước mang màu sắc tư sản khác. Ngay cả khi Việt Minh dựng lên một mặt trận có vẻ đa giai cấp, thực chất nền tảng của nó vẫn là những người cộng sản lãnh đạo nông dân, còn vai trò của tư sản trong mặt trận ấy luôn mang tính phản động hoặc vô dụng không đáng kể. Nhìn từ góc độ đó, hoàn toàn không có lý do gì để ngăn cản, đàn áp quần chúng đòi ruộng đất vào năm 1945 chỉ vì lo ngại làm mất lòng địa chủ – bởi chính nông dân và vô sản, chứ không phải địa chủ hay tư sản, mới là lực lượng mạnh mẽ nhất, kiên quyết nhất trong cuộc chiến chống đế quốc.

Đúng là Đảng Cộng sản Việt Nam, vì đi theo học thuyết hai giai đoạn của Stalin, đã chủ trương chỉ làm cách mạng dân chủ tư sản mà thôi – và đó chính là nguyên nhân khiến nó để vụt mất thời cơ lịch sử, đẩy đất nước vào những cuộc chiến tranh kéo dài. Nhưng quy luật khách quan của cách mạng thường trực đã buộc Đảng, dù chỉ muốn hoàn thành ngay cả những nhiệm vụ dân chủ tư sản, cũng phải dựa vào chính quần chúng vô sản và nông dân. Chỉ có điều, do đã bị Stalin hoá ngay từ trong bản chất, Đảng vận hành như một bộ máy quan liêu ngay từ đầu, trong đó vô sản chỉ được phép “góp phần” chứ không bao giờ thực sự được lãnh đạo.

Câu hỏi tiếp theo cần đặt ra là: nếu chỉ dừng ở cách mạng dân chủ tư sản và cải cách ruộng đất, tại sao rốt cuộc Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đi xa hơn, tiến tới xoá bỏ tư hữu tư sản và xây dựng một nền kinh tế tập trung – vốn dĩ là những thành tựu thuộc về trách nhiệm lịch sử của giai cấp vô sản, chứ không phải tư sản? Nếu đây thực sự chỉ là một đảng tư sản thuần tuý, điều đó sẽ không bao giờ xảy ra, vì nó hoàn toàn đi ngược lại lợi ích giai cấp của chính tầng lớp tư sản. Chỉ cần nhìn sang các nước Đông Nam Á xung quanh là đủ thấy sự khác biệt: dù có tinh thần dân tộc mạnh mẽ đến đâu, như trường hợp Sukarno ở Indonesia, giai cấp tư sản ở những nước ấy vẫn bám chặt lấy các cấu trúc thượng tầng mang tính phong kiến – tư sản Thái Lan là một ví dụ, hoặc bị đẩy bật ra ngoài như tư sản Trung Quốc từng phải di tản sang Hồng Kông, Đài Loan.

Cũng không thể nói đây là một đảng do giai cấp nông dân lãnh đạo, bởi ngay sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất và chia đất cho nông dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước xoá bỏ chính chế độ tư hữu đất đai ấy -thông qua quá trình hợp tác hoá nông nghiệp, và đến năm 1980 thì xoá bỏ hoàn toàn quyền tư hữu đất đai, ít nhất là trên văn bản hiến pháp. Đó đều là những chính sách mang bản chất vô sản. Nhìn vào hệ quả cuối cùng, những thành tựu của cuộc cách mạng năm 1945 thực chất trùng khớp với những thành tựu đặc trưng của một cuộc cách mạng vô sản hơn là một cuộc cách mạng tư sản – cho dù bản thân giai cấp vô sản chưa bao giờ thực sự nắm quyền lãnh đạo. Những thành quả vô sản này cũng chính là lý do và nguồn gốc cho tất cả những thành tựu của cuộc cách mạng, là phần cấp tiến nhất và huy hoàng nhất của nó, là lý do khiến cuộc cách mạng này và cuộc chiến tranh đế quốc sau đó trở nên “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu,” trở thành một nguồn cảm hứng bất tử với giai cấp vô sản toàn cầu.

Lý thuyết cách mạng thường trực giải thích được nghịch lý này: ở các nước thuộc địa, một cuộc cách mạng thực sự chỉ có thể là cách mạng vô sản. Đây cũng chính là điểm mấu chốt đồng nhất với lý luận của Lenin về vấn đề thuộc địa – rằng chủ nghĩa tư bản, khi đã bước vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, không còn khả năng thực sự phát triển các nước thuộc địa, càng không thể trao cho họ tự do đúng nghĩa.

Nhưng chính vì bản chất Stalinist, hay nói chính xác hơn, bản chất Bonapart của Đảng Cộng sản Việt Nam, quá trình ấy đã không diễn ra một cách trong sáng, thẳng thắn. Ở đây, khi nói về chủ nghĩa Bonapart, và rằng chủ nghĩa Stalin là một hiện thân của chủ nghĩa bonapart, chúng ta quay lại với những phân tích cổ điển của chủ nghĩa Mác về nhà nước và giai cấp. Nhà nước luôn luôn là một công cụ áp bức đại diện cho giai cấp thống trị lên một giai cấp khác, điều này đã được phân tích rất rõ bởi Mác, Engel, và đặc biệt là Lenin trong tác phẩm bất hủ “Nhà Nước và Cách Mạng”. Trong cùng tác phẩm, có một đoạn trích của Engel:

Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ, tức là những thời kỳ mà những giai cấp đang đấu tranh với nhau đã đạt tới một thế cân bằng lực lượng khiến cho chính quyền nhà nước tạm thời có được một sự độc lập nào đó đối với cả hai giai cấp, tựa hồ như một bên trung gian đứng giữa các giai cấp ấy […].

Engel đưa ví dụ về nước Pháp dưới thời Napoleon Bonapart (tên ông ta được đặt cho hiện tượng nhà nước này) làm ví dụ cho sự tưởng chừng như “độc lập giai cấp” của nhà nước. Lenin đưa thêm ví dụ về chính quyền Kerensky, khi vô sản đã làm cách mạng và có quyền lực quần chúng nhưng lại không nắm chính quyền do sự phản bội của lãnh đạo Menshevik và bè lũ cải lương.

(Nguồn: “Nhà Nước và Cách Mạng” trong cuốn Lênin Toàn Tập, Tập 33, trang 16, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội – 2005). https://www.marxists.org/vietnamese/lenin/toan_tap/Lenin33.pdf

Sau này, Trotsky phân tích sự độc lập nhất định của chính quyền Liên Xô dưới thời Stalin khỏi chính giai cấp đã đưa nó lên nắm nhà nước (giai cấp vô sản và nông dân), liên hệ nó với chủ nghĩa Bonapart và gọi nó là thể loại chủ nghĩa Bonapart vô sản (Proletarian Bonapartism). Giống như bối cảnh Việt Nam, bản chất của những tổ chức đảng và nhà nước này là ban đầu dựa vào vô sản và nông dân để nắm lấy quyền lực nhà nước, nhưng lại dựa vào chính những sự phản bội, thoả hiệp giai cấp, và phá đám của họ để giai cấp vô sản không thể thực sự nắm quyền, và để quyền lực nhà nước bị thâu tóm vào tay chúng. Vì bản chất là một bộ phận ký sinh dựa vào quyền lực của một giai cấp nhưng lại cố gắng trung gian, độc lập, đặt mình đứng trên giai cấp đấy, các chính quyền Bonapart luôn luôn sẵn sàng lợi dụng “thế cân bằng lực lượng” giữa các giai cấp trong xã hội để giữ uy quyền. Nói cách khác, nó sẵn sàng dựa vào bất kỳ giai cấp nào, lúc ngả về bên tư sản, lúc ngả về vô sản, đóng vai trò là quyền lực duy nhất giữ được thế cân bằng này.

Từ việc chủ yếu dựa vào vô sản và nông dân, sau khi Đổi Mới và phục hồi chủ nghĩa tư bản, giờ đây nhà nước Việt Nam từ Bonapart vô sản đã chuyển thành Bonapart tư sản, chủ yếu dựa dẫm và bảo vệ lợi ích của tư bản. Chính bản chất đó mới giải thích được ảnh hưởng dai dẳng của một thứ chủ nghĩa Bonapart trong lòng bộ máy nhà nước, và lý giải được những bước đi tưởng chừng “khó hiểu” của một đảng vẫn tự xưng là “Cộng sản”.

Tóm lại, Cách mạng Tháng Tám ban đầu chỉ được hình dung như một cuộc cách mạng “dân chủ tư sản”. Nhưng do bản chất của chính thời đại mà nó diễn ra, thời đại của cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới, cuộc cách mạng ấy đã buộc phải tiếp diễn, tiến xa hơn tới những bước đi mang tính vô sản, dù bị bóp méo và giới hạn nghiêm trọng bởi chủ nghĩa Stalin. Một quá trình tương tự cũng đã từng diễn ra ở Trung Quốc, và ở Cuba.

Nhìn lại tất cả những điều đó để soi vào hiện tại, bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện lên rõ ràng: đây là một đảng quan liêu theo mô hình Bonapart, từng dựa vào vô sản trong quá khứ, nhưng nay đã chuyển hẳn sang dựa vào tư bản. Nó không còn mang trong mình bất kỳ yếu tố tiến bộ nào; nó đã hoàn toàn quay sang bảo vệ chủ nghĩa tư bản, bắt tay hợp tác với chính những thế lực tư bản đế quốc mà nó từng tuyên bố chống lại. Và chính vì lẽ đó, nó là một chướng ngại cần phải bị lật đổ.

Các trích dẫn khác:

[1] “In the Crossfire: Adventure of a Vietnamese Revolutionary” (AK Press, 2010) dịch bởi Ken Knabb & Hélène Fleury; Chương 3-4 https://theanarchistlibrary.org/library/ngo-van-in-the-crossfire#toc8

[2] “In the Crossfire: Adventure of a Vietnamese Revolutionary” (AK Press, 2010) dịch bởi Ken Knabb & Hélène Fleury; Chương 3-4 https://theanarchistlibrary.org/library/ngo-van-in-the-crossfire#toc8

[3] In the Crossfire: Adventure of a Vietnamese Revolutionary” (AK Press, 2010) dịch bởi Ken Knabb & Hélène Fleury; Chương 5 https://theanarchistlibrary.org/library/ngo-van-in-the-crossfire#toc8

[4] “Việt Nam và Chủ Nghĩa Trotsky”, bản dịch bởi Tranh Đấu, trang 64

[5] “Việt Nam và Chủ Nghĩa Trotsky”, bản dịch bởi Tranh Đấu, trang 64