Doanh nghiệp FDI – Tâm điểm của cuộc đấu tranh giai cấp

Tác giả

Những nhận định của chính phủ Việt Nam và cả các bình luận viên kinh tế, các chuyên gia kinh tế tư sản trong và ngoài nước đều đồng ý rằng: ngành doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức sản xuất quan trọng, là cột chống cho mô hình kinh tế ở Việt Nam. Từ những ngày đầu của Đổi Mới, việc thu hút vốn và tư bản đầu tư nước ngoài đã là một mục tiêu chính của Đảng Cộng Sản VN về “hội nhập kinh tế,” có nghĩa là biến nền kinh tế Việt Nam thành một mắt xích trong sản xuất tư bản toàn cầu. Đầu tư FDI đã góp phần phát triển lực lượng sản xuất, đóng phần cốt lõi trong việc phát triển kinh tế ở Việt Nam theo mô hình kinh tế xuất khẩu. Những đối tác đầu tư truyền thống là các nước Châu Á với kinh tế phát triển trong khu vực: Singapore, Nhật bản, Hồng Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, … theo thứ tự nguồn vốn [1]. Với vai trò cung cấp lao động rẻ mạt, Việt nam trở thành nơi thu hút các công ty này đầu tư, chủ yếu vào các ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Các nhà máy dệt may, chế tạo điện máy, sản phẩm công nghệ, đồ tiêu dùng [2] sản xuất cho các công ty đa quốc gia mọc lên như nấm, trở thành nơi làm việc của hàng triệu công nhân Việt Nam, chiếm 1/3 số lao động trong nước [3]. Nhìn chung nguồn vốn FDI cho đến năm 2022 thuộc dạng tăng nhanh nhất [4], đại diện cho sự lệ thuộc ngày càng gia tăng của kinh tế VN vào tư bản toàn cầu.

Như Mác đã miêu tả trong Tuyên Ngôn Cộng Sản và Lênin đã giải thích trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn cao nhất của chủ nghĩa tư bản,” sự phát triển của lực lượng sản xuất tư bản ở các nước tư bản phát triển từ lâu đã vượt quá giới hạn của thị trường quốc gia – nó bắt buộc phải vươn vòi bạch tuộc tìm đến các thị trường và nguồn tài nguyên mới để bóc lột. Kinh tế Việt Nam khi bắt đầu Đổi Mới bắt nguồn từ nền kinh tế tập trung quan liêu, khởi điểm kinh tế nghèo và thiếu tư liệu, công nghệ, thiếu khả năng để công nghiệp hoá. Qua đầu tư tư bản nước ngoài, FDI đã giới thiệu những đặc điểm hiện đại và thối nát nhất của chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn đế quốc tới Việt Nam.

Cho đến nay, mô hình doanh nghiệp FDI đã và đang là một lựa chọn đầu tư sinh lời cao nhất và được ưu đãi nhất cho tư bản quốc tế [5]. Quan trọng nhất là sự tập trung lao động và tư liệu sản xuất lớn, với khả năng sinh lời cao. Theo số liệu của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, dù doanh nghiệp FDI chỉ chiếm sổ nhỏ tổng các doanh nghiệp (3%) [6], nó thu được gần 1/3 tổng doanh thu toàn quốc. Hơn thế, số ít 3% này có mức lợi nhuận khổng lồ bằng với tổng lợi nhuận từ các doanh nghiệp ngoài nhà nước, mô hình mà chiếm tới hơn 90% số doanh nghiệp của nền kinh tế. Số liệu chính thức cho thấy có 52.6% doanh nghiệp FDI kinh doanh có lãi, so với 44.3% doanh nghiệp ngoài nhà nước [7]. Trên thực tế, con số có lãi của các doanh nghiệp FDI cao hơn rất nhiều, vì đa số các doanh nghiệp FDI đều báo lỗ giả để tránh thuế và tối đa hoá lợi nhuận [8]. 

Doanh nghiệp FDI tuy số lượng ít, nhưng có quy mô lớn, tập trung lực lượng sản xuất cao và tiên tiến, có khả năng cạnh tranh và sinh lời ăn đứt mô hình kinh tế tiểu tư sản, doanh nghiệp vừa và nhỏ của khối ngành doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.

Điều này không có gì ngạc nhiên, bởi cách doanh nghiệp FDI nhận được nhiều ưu đãi kinh tế với mục đích thu hút đầu tư. Nói cách khác, nền kinh tế tư nhân Việt Nam là sự thống trị của tư bản ngoại quốc lên quốc gia, với sự tập trung sản xuất cao vào tay số ít các doanh nghiệp nước ngoài. Mô hình kinh doanh duy nhất có thể ngang bằng với doanh nghiệp FDI là các doanh nghiệp nhà nước, cũng có quy mô rất lớn và đặc quyền đi kèm. Nhưng các doanh nghiệp này đang ngày càng được tư nhân hoá, và các đặc quyền đó đang có xu hướng được dỡ bỏ để nhường đường cho doanh nghiệp tư nhân (xem bài viết của Chủ tịch nước Tô Lâm về nghị định 68).

Sự bóc lột tột cùng

Chủ nghĩa Mác từ lâu đã phân tích logic của sản xuất tư bản: rằng lợi nhuận đến từ sự bóc lột giá trị thặng dư của người lao động. Công nhân khối ngành FDI Việt Nam không những phải chịu cùng điều kiện với những người lao động vô sản khác trên toàn thế giới, mà còn ở trong thế bóc lột tàn khốc của tư bản đế quốc với vô vàn những áp bức đè nén cộng lại.

Khi người lao động sản xuất trong công xưởng, họ tạo ra giá trị và nhận lại đồng lương chỉ tương ứng với một phần nhỏ số giá trị ấy, và phần còn lại do lao động sản xuất ra được bỏ túi bởi nhà tư bản. Đó là lý do mà các nhà tư bản có thể đem sản phẩm đó đi bán lấy doanh thu trên thị trường, trả lương cho người lao động và trả giá cho nguyên liệu thô, mà vẫn đem lại lợi nhuận. Đây chính là ý nghĩa của sự bóc lột: lợi nhuận càng cao, bóc lột càng khốc liệt.

Tình cảnh bóc lột và những bất công mà công nhân Việt Nam phải chịu đựng không phải là điều mới mẻ gì với bất kỳ người vô sản Việt Nam, đặc biệt là những người công nhân trong khối ngành FDI. Dù hiện trạng đen tối này thường không bao giờ được vạch trần trên báo chí và không được nghiên cứu hay thu thập số liệu tử tế, đã có một vài nghiên cứu trong và ngoài nước nói về chế độ làm việc khốc liệt và đồng tiền lương kém cỏi mà những công nhân này thường phải chịu đựng. Một báo cáo của tổ chức từ thiện Oxfam và Viện Công nhân và Công đoàn VN từ năm 2019, bao gồm nhiều phỏng vấn với người lao động và cả các cán bộ Công Đoàn và sở Lao Động, đã vẽ nên một bức tranh phản ánh những nỗi khổ cực của công nhân ngành dệt may xuất khẩu, mà phần lớn là làm việc trong các doanh nghiệp FDI:

“Hầu hết công nhân được phỏng vấn cho báo cáo này đều có mức lương dưới mức lương đủ sống; và đang phải vật lộn nuôi sống bản thân và gia đình, thậm chí có những lúc bị đói. Nhiều người rơi vào vòng xoáy nợ nần, sống trong điều kiện nghèo nàn, không đủ khả năng chăm sóc sức khoẻ cho bản thân và gia đình, và không đủ điều kiện chi trả học hành cho con cái [9].”

Không chỉ bị bóc lột với đồng lương ít ỏi không đủ sống trong khi các doanh nghiệp thu được doanh thu và lợi nhuận hậu hĩnh, các chủ công ty và quản lý nhà máy còn thường xuyên dùng đủ chiêu trò để giằng xé từng đồng lương, đồng tiền trợ cấp cho công nhân. Báo cáo trên đã chỉ ra những thủ đoạn như lách luật và chấm công không công bằng để bớt xén thu nhập, khấu trừ lương bằng các hình phạt độc đoán, cắt giảm đủ thể loại trợ cấp, đóng bảo hiểm xã hội, tiền ăn hay tiền thưởng tết trong hợp đồng, v…v…. Công việc vô thưởng còn nhiều lúc bắt công nhân phải làm thêm giờ bất hợp pháp, phải chịu sự đối xử đầy lạm dụng, doạ nạt, trong nỗi hoang mang sợ mất việc thường trực [10] – điều chung không chỉ ở các nhà máy dệt may mà còn nhiều doanh nghiệp FDI. Đời sống của người vô sản dưới mô hình sản xuất tư bản đầy rẫy miệt thị và tha hoá cả về tinh thần lẫn thể xác.

Sự bóc lột của công nhân Việt Nam không chỉ là sự bóc lột đơn thuần tồn tại trong mọi nhà máy hay công sở dưới chủ nghĩa tư bản, mà là sự “siêu bóc lột.” Như Mác đã giải thích trong tư bản luận, các nhà tư bản có thể đạt được “siêu lợi nhuận” trong các hoàn cảnh nhất định, một trong số đó bao gồm việc trả lương dưới mức đủ sống (mức lương tối thiểu đủ để người lao động tái tạo lao động, bao gồm nuôi sống bản thân mình và tầng lớp lao động tiếp theo là con cái của họ). Trong hoàn cảnh của chủ nghĩa tư bản đế quốc như Lenin phân tích, các tập đoàn tư bản lớn của các nước đế quốc xuất khẩu tư bản và tìm kiếm thị trường cùng nguồn tài nguyên ở các nước kém phát triển, đồng thời trở thành các tập đoàn mang tính độc quyền. Sự độc quyền này đi kèm với sức mạnh ép buộc người lao động phải nhận đồng lương cùng điều kiện lao động “siêu bóc lột” – bởi nếu không, sẽ chẳng còn công ty nào khác cho họ việc làm. Kết hợp với nhu cầu tìm kiếm nguyên liệu thô và sức lao động rẻ mạt để cạnh tranh tại các thị trường tiêu dùng ở các nước đế quốc, điều kiện này khiến các tập đoàn FDI áp đặt mức lương siêu bóc lột lên công nhân các nước đang phát triển.

Sự bóc lột của công nhân trong khối ngành FDI ở VN không chỉ lộ rõ qua số liệu về mức lợi nhuận khổng lồ, mà còn cả trong ảnh hưởng của nó lên nền kinh tế. Theo số liệu thống kê, thu nhập bình quân năm 2022 – có nghĩa là tổng tiền lương và lợi nhuận người Việt Nam nhận được chia theo dân số – là khoảng 56 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, tổng sản phẩm nội địa bình quân (GDP per capita) cùng kỳ – có nghĩa là tổng giá trị hàng hoá được sản xuất tại Việt Nam chia theo đầu người – lại lên tới 95.6 triệu đồng/năm. Vậy sự chênh lệch này đến từ đâu? Sự chênh lệch giữa tiền lương của công nhân (và cả lợi nhuận của tư sản quốc gia) và giá trị hàng hoá được sản xuất ra chính là phần lợi nhuận thuộc về các nhà đầu tư FDI – một điều mà đến cả giới kinh tế Việt Nam cũng công nhận [11]. Rõ ràng số liệu này cho thấy sự lệ thuộc của kinh tế VN vào FDI, cũng như tính ký sinh của ngành FDI. Thay vì giúp phát triển tăng trưởng kinh tế để làm giàu cho toàn dân, thì FDI lại chủ yếu béo bở cho tư bản quốc tế, từ sự bóc lột công nhân Việt Nam.

Rõ ràng rằng, trong điều kiện kinh tế suy thoái và khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu, các tập đoàn FDI và tư bản đế quốc đã không còn khả năng thực sự phát triển lực lượng sản xuất nữa. Chúng bóc lột công nhân ta, trong khi đó lợi nhuận thu được bỏ vào túi tư bản nước ngoài, chứ không thực sự được đưa vào đầu tư để nâng cao điều kiện công việc, cơ sở hạ tầng xã hội, hay lực lượng sản xuất. Cùng với tham nhũng kết hợp với trốn thuế và các chiêu trò kế toán tinh vi khác, giá trị tạo ra từ lao động của công nhân FDI Việt Nam phần lớn đều bị bòn rút làm giàu cho tư bản đế quốc mà chẳng thể cải thiện xã hội cho chính tầng lớp lao động.

Đấu tranh giai cấp

Hầu hết đình công diễn ra ở các doanh nghiệp FDI, điều này không ngạc nhiên gì, vì doanh nghiệp FDI có quy mô lớn, tạo tiền đề cho việc tổ chức đấu tranh giai cấp cho vô sản. Với quy mô lớn và tập trung sản xuất cao, tập trung số lượng lớn lao động vào cùng một nhà máy, người lao động dễ dàng giao tiếp và kết nối với nhau dựa trên sự đồng cảnh ngộ là bóc lột giai cấp, dễ dàng cảm nhận được sức mạnh số đông của tập thể. Các doanh nghiệp này cũng bóc lột công nhân không thương tiếc, khiến người lao động buộc phải đấu tranh tổ chức đòi quyền lợi và tiền lương đủ sống. Các cuộc đình công quy mô lớn với hàng nghìn người công nhân tham gia là chuyện thường thấy mỗi năm, đặc biệt vào kỳ thưởng tết hoặc tăng lương tối thiểu.

Trong tuần đầu của tháng 3 năm 2025, đã xảy ra một vụ việc đình công ở tỉnh Thanh Hoá với gần 33,000 công nhân trên toàn tỉnh. Điều đặc biệt là cuộc đình công này tự phát không chỉ ở trong một doanh nghiệp, mà còn lan ra lên đến 10 doanh nghiệp ở tỉnh Thanh Hoá, chủ yếu là các doanh nghiệp FDI dệt may. Lý do đình công là do doanh nghiệp từ chối tăng lương tối thiểu vùng, kể cả khi công nhân và công đoàn đưa đề nghị và làm việc với chủ doanh nghiệp [12]. 

Chắc chắn rằng những sự kiện đình công như vậy là không thể tránh khỏi trong quá trình suy thoái của chủ nghĩa tư bản và đà lên của cuộc đấu tranh giai cấp. Suy thoái và kinh tế đi vào ngõ cụt sẽ khiến công nhân mở rộng được ý thức giai cấp của mình ra cả những vấn đề đấu tranh giai cấp lớn hơn chứ không chỉ bị bó hẹp trong những tranh cãi gói gọn về thù lao.

Vai trò của công đoàn

Trước sự bóc lột và đè nén công nhân từ những nhà máy và chủ tư bản FDI, đáng ra công đoàn phải là tổ chức đi đầu đứng ra bảo vệ quyền lợi của người lao động, đứng ra tổ chức đình công để bắt ép giới chủ phải thoả hiệp và đạt được thắng lợi cho người lao động.

Tuy nhiên, sự thật là hầu hết các cuộc đình công – cái mà trên báo chí gọi là “ngừng việc tập thể” – thường là bất hợp pháp [13]. Nói đúng hơn, thì những sự kiện nêu trên và các cuộc đình công tương tự là hành động tự phát của công nhân, không thông qua công đoàn và không có sự tổ chức của công đoàn cơ sở ở doanh nghiệp đó, không nhận được sự ủng hộ của các công đoàn này. Ví dụ như ở tỉnh Nghệ An, theo Liên Đoàn Lao Động tỉnh thống kê có 22 vụ đình công từ năm 2018-2024, hầu hết ở các nhà máy FDI và đều là trái pháp luật, đều là tự phát [14].

Hầu hết đình công diễn ra bất hợp pháp và ngoài công đoàn (hãy đọc thêm bài viết của chúng tôi về luật đình công), nhưng tại sao vậy? Điều này không phải vì những công nhân này “chống phá, đối lập chính trị” hay là bản thân họ “phản động” muốn gây “mất trật tự xã hội.” Thực tế là bởi vì công đoàn trong ký ức của hầu hết công nhân đều không có khả năng và không sẵn sàng đình công hay thực sự dùng các phương thức đấu tranh giai cấp [15]. Chính bởi vì công nhân không tìm thấy giải pháp trong công đoàn, nên họ mới phải có những “hành động tự phát,” để tự giải quyết những vấn đề tranh chấp qua đấu tranh giai cấp [16]. 

Lý do là bởi, trái ngược với việc đại diện và tổ chức vì lợi ích của công nhân, các lãnh đạo công đoàn này đóng một vai trò hoàn toàn khác trong phần lớn ký ức của người lao động, đặc biệt là từ thời kỳ Đổi Mới. Từ thái độ của những cơ quan ngôn luận và phát ngôn báo chí, cũng đủ thấy họ luôn cố gắng kìm nén sự bất bình và sự giận giữ mang tính giai cấp của công nhân, với mục tiêu hàng đầu là thuyết phục công nhân ngừng đình công, trở lại làm việc càng nhanh càng tốt, để duy trì sản xuất qua thoả hiệp với giới chủ.

Báo Thanh Hoá viết về sự việc đình công rằng: “Nhờ công đoàn và các ngành chức năng vào cuộc kịp thời, các vụ ngừng việc tập thể được giải quyết nhanh chóng, đảm bảo quyền lợi NLĐ và ổn định sản xuất.” Bài báo đó có đề cập đến việc doanh nghiệp đồng ý tăng lương 6% và công nhân trở lại làm việc sau đó, là minh chứng cho việc đình công đã đem lại kết quả. Tuy nhiên bài báo lại không đề cập đến yêu cầu ban đầu của công nhân là gì, liệu nhượng bộ tăng lương này có đáp ứng được nhu cầu của họ, hay thậm chí là cũng không tỏ vẻ vui mừng gì khi người lao động đã khiến doanh nghiệp phải nhượng bộ mà chỉ thở phào về việc đình công đã ngừng lại. Họ còn nói về việc “ngăn ngừa ngừng việc tập thể” qua “xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa những người sử dụng lao động và người lao động.”

Như vậy, ngôn ngữ của các công đoàn cơ sở, không phải là ngôn ngữ của sự đấu tranh giai cấp của một tổ chức vô sản độc lập, mà là ngôn ngữ của sự thoả hiệp giai cấp, của một bộ phận quan liêu đặt mình làm “cầu nối giữa doanh nghiệp và công nhân.” 

Kể cả khi cho rằng có thể qua luật pháp mà điều hoà được những lợi ích giai cấp đối nghịch giữa vô sản và tư sản, thì nhìn chung bộ máy công đoàn và tổ chức lao động ở Việt Nam cũng chẳng có khả năng và nguồn lực để thực sự giám sát các doanh nghiệp này và bảo vệ quyền lợi lao động theo luật pháp. Theo báo cáo của Oxfam & Viện Công nhân và Công đoàn về thanh tra lao động, “lực lượng thanh tra toàn quốc quá mỏng không đủ để ngăn chặn các vi phạm diễn ra,” ví dụ như một tỉnh họ khảo sát có tới 29,000 doanh nghiệp nhưng chỉ có 15 thanh tra lao động tỉnh [17]. Vì thế, các vi phạm quyền lợi lao động xảy ra luôn luôn hằng ngày, mà người công nhân chẳng thể nhờ cậy vào các cơ quan này để bảo vệ họ. Thiếu sự bảo vệ từ luật pháp, chịu sự đe doạ từ giới chủ khi đứng ra tổ chức công đoàn và đình công, phải làm việc với các lãnh đạo công đoàn bất lực và thoả hiệp giai cấp, vô sản Việt Nam nói chung và công nhân ngành FDI nói riêng gần như không có quyền tổ chức lao động hiệu quả trên thực tế.

Những bất lực này, hay thường thấy hơn là sự từ chối đấu tranh cho quyền lợi công nhân, phản ánh bản chất phụ thuộc của nền kinh tế VN vào kinh tế FDI, vào chủ nghĩa tư bản đế quốc. Qua đó, nó phản ánh sự phụ thuộc của Đảng Cộng Sản Việt Nam vào việc đảm bảo sự thoả hiệp và hoà hợp giai cấp, và vì Công Đoàn Việt Nam chịu sự kiểm soát của ĐCSVN, nên Công Đoàn cũng phải có chủ trương hoà giải giai cấp. Tưởng tượng mà xem, nếu công nhân ngành FDI được cho phép tổ chức và xây dựng truyền thống công đoàn cấp tiến, công đoàn thực sự đấu tranh cho vô sản, và bắt đầu tổ chức các cuộc đình công chống lại chế độ bóc lột hà khắc, thì sẽ khó lòng nào thu hút được nhiều vốn đầu tư FDI. Thay vào đó, phải giả vờ rằng lợi ích của tư bản và vô sản không phải là đối lập giai cấp không thể dung hoà, không phải là mối quan hệ chủ tớ bóc lột, mà có thể được “lành mạnh hoá” để “đảm bảo lợi ích đôi bên.” 

Chương trình đấu tranh cho lao động

Thay vì lừa bịp công nhân bằng “lợi ích dân tộc” hay hoà giải giai cấp, cần nhìn nhận rõ vai trò phản động của các luận điệu đó, thừa nhận sự bóc lột của doanh nghiệp FDI, và thừa nhận lợi ích đối lập giai cấp chủ-tớ. Giai cấp vô sản Việt Nam có một truyền thống đấu tranh hào hùng lừng lẫy năm châu trong công cuộc chống đế quốc để xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng cho dù đất nước đã độc lập được hơn 50 năm, thì sự kiểm soát và ảnh hưởng của tư bản đế quốc toàn cầu lại ngày càng trở nên mạnh mẽ qua đầu tư FDI. Công nhân Việt Nam với lịch sử anh hùng, cần phải đấu tranh chống lại sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản qua việc đấu tranh công đoàn thực sự, bằng các công đoàn có dân chủ vô sản và một đường lối chính sách độc lập giai cấp. Không thể dựa vào ĐCS VN và tầng lớp quan liêu thống trị hay các công đoàn thuộc ĐCS, vì bọn chúng đã lộ rõ bản chất phụ thuộc vào tư bản đế quốc, là tay sai cho tư sản bóc lột người lao động. Chỉ bằng cách dựa vào chính sức mạnh của mình, công nhân Việt Nam mới có thể đảm bảo được mưu sinh của mình, mới có khả năng thực sự tham gia vào xây dựng và đấu tranh cho xã hội chủ nghĩa.

Cụ thể hơn, công nhân và vô sản Việt Nam cần một chương trình đấu tranh cho quyền lợi lao động, bao gồm những điều sau:

 1. Đấu tranh cho quyền dân chủ trong công đoàn. Quyền thành lập công đoàn tự nguyện, độc lập khỏi kiểm soát chính trị từ ĐCSVN. Tất cả các công đoàn dù độc lập hay không, phải hoạt động với nguyên tắc dân chủ vô sản: người công nhân có quyền bầu cử lãnh đạo công đoàn, quyền bầu cử lại và bãi nhiệm lãnh đạo bất cứ lúc nào. 

2. Đấu tranh cho quyền đình công, bao gồm cả đình công chính trị chứ không chỉ đình công kinh tế. Nếu tư sản có thể vi phạm quyền lợi công nhân mà không bị trừng phạt bởi luật pháp thì đình công giành lại quyền lợi công nhân cũng không thể bị trừng phạt bởi luật pháp.

3. Tăng cường số lượng thanh tra lao động của nhà nước và cả các thanh tra doanh nghiệp của công đoàn, tất cả các thanh tra này cần được bầu cử bới chính người công nhân và có thể bị bãi nhiệm bởi công nhân/người dân trong đơn vị hành chính. Dù vai trò của thanh tra lao động còn nhiều hạn chế bởi chính sự thoả hiệp giai cấp của chính phủ lẫn các công đoàn, họ là điểm đến đầu tiên của nhiều người lao động khi gặp phải áp bức trong công việc. Cần phải biến những  vị trí này thành những người đấu tranh và trách nhiệm với công nhân ở mức cao nhất có thể, điều sẽ làm rõ những mâu thuẫn giai cấp giữa vô sản và chính quyền khi có đấu tranh cao trào.

4. Với doanh nghiệp FDI: yêu cầu các doanh nghiệp công khai sổ sách tài chính cho công chúng, để công khai sự bóc lột và lươn lẹo của đám tư bản đế quốc. Bắt buộc doanh nghiệp phải đầu tư vào cơ sở hạ tầng xã hội của người công nhân, với sự quyết định dân chủ và đồng thuận của công nhân. Nếu không làm theo, quốc hữu hoá doanh nghiệp và vận hành dưới quyền kiểm soát dân chủ của công nhân và nhà nước. Như vậy mới đảm bảo rằng thành quả lao động thuộc về người lao động.

Nếu bạn đọc đồng tình với những điểm trên, và đồng lòng với đường lối của chúng tôi, hãy gia nhập những người Cộng Sản cách mạng để đấu tranh cho sự giải phóng của giai cấp vô sản Việt Nam!


Trích dẫn (References)   

[1] https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2024/01/tinh-hinh-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai-nam-2023

[2] Ibid.

[3] Sách trắng Doanh Nghiệp Việt Nam 2024, Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư – Nhà Xuất Bản Thống Kê – 2024. Trang 43

[4] https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2024/01/tinh-hinh-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai-nam-2023

[5] Sách trắng Doanh Nghiệp Việt Nam 2024, Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư – Nhà Xuất Bản Thống Kê – 2024. Trang 76

[6] Ibid. Trang 38

[7] Ibid. Trang 38

[8]

[9] “Tiền lương không đủ sống và hệ luỵ,” Oxfam & Viện Công nhân và Công đoàn (2019), trang 7,  https://vietnam.oxfam.org/latest/publications/report-consequences-low-wages-study-fashion-suppliers-vietnam 

[10] Ibid. trang 46-47

[11] https://tuoitre.vn/10-nam-thu-nhap-nguoi-viet-tang-2-3-lan-20240428081218003.htm

[12] https://baothanhhoa.vn/nang-cao-vai-tro-cua-cong-doan-de-giam-ngung-viec-tap-the-244466.htm

[13] https://laodongcongdoan.vn/dinh-cong-dung-luat-cong-nhan-phai-tuan-thu-quy-dinh-nhu-the-nao-103463.html

[14] Ibid.

[15] http://column.global-labour-university.org/2017/10/why-always-wildcat-strikes-in-vietnam.html (Bài nghiên cứu của Viện công nhân và Công đoàn)

[16] Ibid.

[17] “Tiền lương không đủ sống và hệ luỵ,” Oxfam & Viện Công nhân và Công đoàn (2019), https://vietnam.oxfam.org/latest/publications/report-consequences-low-wages-study-fashion-suppliers-vietnam trang 60

[18] Ibid. trang 48-49